ĂN UỐNG VÀ SỨC KHỎE

PHONG BENH HON CHUA BENH

TRI THUC LA SUC MANH

Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2011

Thịt đỏ, chất béo: Tăng tái phát ung thư ruột kết!

     Theo nghiên cứu của các chuyên gia Mỹ, nguy cơ tái phát ung thư ruột hoặc tử vong tăng 3,5 lần ở những bệnh nhân theo “chế độ ăn uống phương Tây”, gồm nhiều thịt đỏ, khoai tây chiên, thức ăn ngọt, chất béo và hạt tinh chế.
          
           Nghiên cứu này được thực hiện đối với 1.009 bệnh nhân bị ung thư ruột kết giai đoạn 3 và đã được điều trị bằng phẫu thuật và hóa trị liệu. Tất cả bệnh nhân này được theo dõi trong thời gian bình quân là 5 năm.
        Nhóm nghiên cứu đã nhận ra 2 xu hướng ăn uống quan trọng trong số bệnh nhân này. Xu hướng thứ nhất được gọi là “chế độ ăn uống phương Tây”, bao gồm nhiều thịt đỏ, thịt chế biến, khoai tây chiên, thực phẩm giàu chất béo, thức ăn ngọt và các loại hạt tinh chế. Xu hướng thứ hai được xem là “chế độ ăn uống cẩn trọng”, bao gồm cá, thịt gia cầm, ngũ cốc chưa tinh chế, rau cải và trái cây.
Sau 5 năm theo dõi, có 324 bệnh nhân đã tái phát ung thư và 223 người tử vong. Qua so sánh giữa 2 nhóm, các chuyên gia nhận thấy nhóm theo “chế độ ăn uống phương Tây” có nguy cơ tái phát ung thư hoặc tử vong cao gấp 3,5 lần so với nhóm còn lại.
Sau khi loại trừ các yếu tố ảnh hưởng như giới tính, tuổi, thể trọng, mức độ vận động thân thể và tình trạng di căn của ung thư, nhóm nghiên cứu nhận thấy kết quả nói trên vẫn không thay đổi.
Dù chưa biết rõ vì sao việc ăn uống theo kiểu phương Tây làm tăng nguy cơ tái phát ung thư ruột kết, nhưng các chuyên gia cho rằng có thể là do nồng độ insulin tăng và những chất kích thích phát triển khác giống như insulin. Đó là những yếu tố có liên quan đến việc hình thành và phát triển của một số dạng khối u.
Trưởng nhóm nghiên cứu, phó giáo sư Jeffrey Meyerhardt, thuộc Trường Y khoa Harvard và Viện Ung thư Dana-Farber (Mỹ), phát biểu: “Không hẳn là việc tăng lượng rau cải, trái cây… đã hạn chế nguy cơ tái phát ung thư ruột, mà chính là việc giảm lượng thịt đỏ, chất béo và đường đã góp phần làm giảm nguy cơ đó”.
        Tuy nhiên, ông cảnh báo: “Điều đó không có nghĩa là tất cả những bệnh nhân không theo chế độ ăn uống phương Tây sẽ không có nguy cơ tái phát ung thư ruột kết. Nghiên cứu này chỉ cho thấy rằng chế độ ăn uống lành mạnh là yếu tố nâng cao hiệu quả điều trị ung thư”.
       Bà Mary Young, Phó chủ tịch Hiệp hội chăn nuôi quốc gia (Mỹ), có ý kiến: “Với tư cách là một chuyên gia dinh dưỡng, tôi không ủng hộ chế độ ăn uống theo kiểu phương Tây được mô tả trong nghiên cứu này, vì nó không là chế độ ăn uống có lợi cho sức khỏe. Thay vào đó, tôi khuyến khích việc ăn nhiều rau, trái cây, sữa ít béo, ngũ cốc chưa tinh chế và thịt nạc, chẳng hạn như thịt bò nạc”.
Bà Katherine Tucker, giáo sư dịch tễ học dinh dưỡng của trường Đại học Tufts, ở Boston (Mỹ), nhận xét rằng các chuyên gia đã thực hiện tốt nghiên cứu này. Bà nói: “Ung thư ruột kết là một trong những bệnh có liên quan đến việc ăn nhiều thịt đỏ”.
        Cùng với ung thư trực tràng, ung thư ruột kết hằng năm gây tử vong cho khoảng 50.000 người ở Mỹ.
Nghiên cứu này đã được công bố trên tạp chí của Hiệp hội Y học Hoa Kỳ, ngày 15/08/2007.
• Quang Thịnh (Theo Science Daily, Reuters, VOA)

Thứ Năm, 15 tháng 12, 2011

Bài thuốc chữa viêm thận gây phù thũng

      Một hôm tôi có việc đến thăm gia đình một người anh em ở Sơn Tây ( thuộc Hà Tây ngày trước). Qua nói chuyện tôi biết bà vợ ông em họ ( 74 tuổi) bị viêm phù thận, đã đi viện chữa mất nhiều tiền nhưng chưa khỏi, cứ bị tái đi, tái lại.
Sau khi xem bệnh xong, tôi mách người nhà lấy các vị thuốc sau :
- Cánh bèo cái 1 nắm, phơi khô sao vàng.
- Cây Cỏ xước 1 nắm, thái ngắn sao vàng
- Cây Cỏ may( cả rễ) 1 nắm băm nhỏ, sao vàng
- Cây Đùm đũm tía 1 nắm băm nhỏ, sao vàng
- Cây Mã đề phơi khô 1 nắm
Tất cả cho vào nồi, đổ 1,5 lít nước đun sôi kỹ uống thay nước cả ngày. Mỗi ngày uống 1 ấm như vậy. Bà uống 1 tuần, bệnh tình khỏi hẳn, ăn ngủ tốt, sức khỏe tiến bộ, đến nay đã hơn một năm bà vẫn khỏe mạnh.
Vương Văn Liêu

Thứ Bảy, 10 tháng 12, 2011

Lại nói về tam thất


TÍNH CHẤT DƯỢC LÝ
    Tam thất còn gọi là sâm tam thất hay kim bất hoán, điểm thất, sơn thất, nhân sâm tam thất… Cây tam thất tên khoa học Panax notoginseng (bunk) F.H. Chen, hoặc Panax Pseudoginseng Wall (Panax rpens Maxim), thuộc họ ngũ gia bì (Araliaceae).

      Đông y cho rằng tam thất có vị ngọt hơi đắng, tính ôn, quy các kinh can và vị. Theo sách Bản thảo cương mục cũng nói vị ngọt hơi đắng, tính ôn, không độc. Còn Bản thảo hội ngôn nói, vị ngọt hơi đắng tính bình, không độc, quy dương minh quyết âm kinh. Sách Bản thảo bị yếu thì vị ngọt, đắng, hơi ôn, sách Bản thảo cầu chân: nhập can, vị kiêm tân, đại tràng, sách Bản thảo tái tân: nhập phế, thận…

     Người ta phân tích các thành phần chứa trong tam thất chủ yếu là Saponin nhân sâm, chất Saponin tam thất, chất cầm máu dencichine, alkaloid, protid, saccharid, lipid, tinh dầu, các acid amin tự do và canxi, carotene… Trong sách Trung dược học cũng có kết quả tương tự.

        Về tác dụng dược lý, theo Đông y là hóa ứ chỉ huyết, hoạt huyết định thống, sinh tân, chủ trị các chứng xuất huyết ngoài và bên trong nội tạng, ngã bầm tím sưng đau. Các kết quả nghiên cứu dược lý của tam thất trong y học hiện đại cũng thấy nước sắc của rễ (củ) tam thất, hoặc bột hay dịch chiết nước tam thất đều cho kết quả như nhau là rút ngắn thời gian đông máu, kể cả thời gian Prothrombin ức chế ngưng tập tiểu cầu… Mặt khác nó lại có ảnh hưởng với trung khu thần kinh như làm hưng phấn nhờ sự có mặt của saponin tam thất, tác dụng chống mệt mỏi, tăng khả năng lao động trí óc và cả chân tay. Đặc biệt chất saponin ở hoa, lá tam thất lại có tác dụng ngược lại làm ức chế trung khu thần kinh an thần gây ngủ, còn ở phần rễ củ loại saponin này cũng có nhưng ít. Song hai loại này đều có tác dụng giống nhau là làm giảm đau rõ rệt.

    Ảnh hưởng của tam thất trên hệ tim mạch như làm hạ huyết áp, làm chậm nhịp tim, tăng lưu lượng máu mạch vành trong thực nghiệm trên chó. Ngoài ra còn thấy tổng hợp saponin ở rễ củ làm giảm lực cản của mạch máu ngoại vi dẫn đến hạ huyết áp của động mạch rõ rệt, còn tăng lượng máu xuất của tim làm nhịp tim chậm lại nên giảm thấp sự tiêu hao oxy của tim, và tác dụng đối kháng với các kích tố thùy sau tuyến yên (oxytoxin và vasopressin) làm rung tim gây nên thiếu máu động mạch vành.

     Đối với chuyển hóa, bột tam thất có tác dụng làm hạ cholesterol và lượng triglyceride trong máu. Saponin của tam thất có tác dụng điều tiết hai chiều đối với glycogen tổng hợp và phân giải. Tổng các saponin của tam thất có tác dụng thúc đẩy quá trình tổng hợp proteine huyết thanh của gan. Nếu tam thất chế biến ở nhiệt độ cao sẽ làm tăng cao cholesterol huyết thanh và triglyceride, betalipoprotein và làm giảm alpha lipoprotein.
      Với chức năng miễn dịch cũng như nhân sâm, tam thất có tác dụng hồi phục trở lại chức năng miễn dịch dù đang ở trạng thái quá thấp hay quá cao mà không làm ảnh hưởng phản ứng miễn dịch vốn có của cơ thể.

      Song còn tác dụng tiêu viêm, ức chế các loại nấm ngoài da… Liều dùng thông thường cho dạng thuốc bột từ 2-8g mỗi lần, cấp có thể dùng ngày 4-5 lần.

ỨNG DỤNG TRONG LÂM SÀNG
 Trị xuất huyết bao tử: Bột tam thất mỗi lần uống 1,5g, uống ngày 3 lần chiêu với nước ấm, bệnh nhân nghỉ tại giường.
Trị ho ra máu: Mỗi lần uống 6-9g, ngày 2-3 lần (tạp chí Trung y Trung Quốc 29/11/1965).
Trị tiểu ra máu: Dùng bột tam thất, cứ 4-8 giờ uống từ 0,9-1,5g, sau 3 ngày đã cho kết quả hết tiểu ra máu.
Trị chứng tăng lipid máu: Dùng bột tam thất sống mỗi lần uống 0,6g, ngày 3 lần. Cần dùng liên tục 1 tháng sẽ cho kết quả tốt.
Một số kinh nghiệm sử dụng tam thất điều trị có kết quả:
Trị cơn đau thắt ngực: Dùng bột nhân sâm cùng bột tam thất mỗi thứ 2g hòa với nước uống.
Trị băng lậu, kinh nguyệt ra nhiều có cục hòn: Dùng tam thất kết hợp với ngũ vị tử, nhục quế, đơn bì, xích thược.
Trị loét dạ dày: Dùng bột tam thất 3-4g uống.
Trị thổ huyết ho ra máu: Dùng bài an huyết ẩm gồm bột tam thất 4g, bạch cập 16g, nước củ sen 5-10ml, bạch mao căn 30g, mẫu lệ 20g. Đại hoàng chế 8g, sắc uống.
Tác giả : BS. HOÀNG XUÂN ĐẠI

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2011

Nghe Phật dạy về tình yêu
  
                             Có hiểu mới có thương, tình yêu phải làm bằng sự hiểu biết

      Này người trẻ, bạn có biết Phật dạy như thế nào về tình yêu? Tôi đã may mắn tham dự một buổi pháp thoại của Thiền sư Nhất Hạnh về tình yêu: mối quan hệ giữa yêu thương và hiểu biết, tình yêu từ bi hỉ xả, tình yêu và tình dục. Ông gọi đó là “yêu thương theo phương pháp Phật dạy”...
Trước khi bắt đầu bài thuyết pháp của mình tại Tổ Đình Trung Hậu - Vĩnh Phúc, Thiền sư Nhất Hạnh đã mời các bạn trẻ ngồi lên trên, để có thể nghe thật rõ. Ông muốn nói về tình yêu, bản chất tình yêu nhìn từ góc độ Phật giáo.
Miệng mỉm cười, ông đã kể một câu chuyện tình yêu, giản dị thôi nhưng hàm ý sâu sắc: Có một chàng trai ở vùng California - Mỹ, rất đẹp trai, học giỏi, tốt nghiệp một trường đại học nổi tiếng, có nhiều bạn gái xinh đẹp. Chàng trai sống với mẹ, người mẹ biết trong các cô gái ngưỡng mộ con mình, có một cô gái không xinh nhất, cô không trắng, không cao lắm nhưng được chàng trai đặc biệt chú ý. Ngạc nhiên, người mẹ hỏi con trai: Vì sao con lại thích cô gái ấy, cô ta đâu có gì nổi bật?Cô ấy hiểu con - chàng trai trả lời đơn giản.
    Chàng trai học ngành công nghệ thông tin nhưng rất hay làm thơ. Mỗi lần chàng đọc thơ, cô gái nọ lắng nghe rất chăm chú và có những nhận xét sâu sắc, trong khi những cô gái xinh đẹp kia không để ý gì đến. Chàng trai đã chọn người yêu không vì vẻ đẹp bề ngoài, mà bởi sự lắng nghe và thấu hiểu.
“Đạo Phật cũng dạy như vậy, có hiểu mới có thương, tình yêu phải làm bằng sự hiểu biết”, Thiền sư kết luận.
Muốn thương phải hiểu
     Trong đạo Phật, từ bi gắn liền với trí tuệ. Không hiểu, không thể thương yêu sâu sắc. Không hiểu, không thể thương yêu đích thực. Hiểu chính là nền tảng của tình thương yêu.
      Mỗi người có những nỗi niềm, những khổ đau, bức xúc riêng, nếu không hiểu, sẽ không thương mà giận hờn, trách móc. Không hiểu, tình thương của mình sẽ làm người khác ngột ngạt, khổ đau. Không hiểu, sẽ làm người mình thương đau khổ suốt đời.
    Nhân danh tình thương, người ta làm khổ nhau. Chuyện đó vẫn thưòng xảy ra.
Được hiểu và được thương vốn là một nhu cầu muôn đời của con người.
Nhiều người thường cảm thấy không ai hiểu mình. Họ “đói” thương, “đói” hiểu. Họ thơ thẩn, lang thang trong cuộc đời tìm người hiểu mình, thương mình. Gặp được người hiểu mình, thương mình là may mắn lớn của cuộc đời.Tình yêu nảy nở, lớn lên từ đó.
Vậy nên, “có hiểu mới có thương” là nguyên tắc chọn người yêu, chọn chồng/vợ theo quan điểm Phật giáo.   Dù người ta có đẹp, có giàu đến đâu nhưng không hiểu mình sẽ làm mình khổ suốt đời. Hôn nhân có thể mở ra những con đường hoa hồng, có thể mở ra cánh cửa tù ngục. Chọn vợ, chọn chồng là một sự mạo hiểm lớn. Hãy cẩn thận, nếu không muốn chọn án tù chung thân cho cuộc đời mình.
Chọn người hiểu và thương mình - hãy nhớ - đó là nguyên tắc tìm người tri kỷ trong cuộc đời.
Bốn yếu tố của tình yêu: Từ bi hỉ xả
      Phật dạy về tình yêu rất sâu sắc. Tình yêu phải hội tụ đủ bốn yếu tố: từ, bi, hỉ, xả.
  “Từ” là khả năng hiến tặng hạnh phúc cho người mình yêu. Yêu thương không phải là vấn đề hưởng thụ, yêu thương là hiến tặng. Tình thương mà không đem đến hạnh phúc cho người yêu không phải là tình thương đích thực. Yêu mà làm khổ nhau không phải tình yêu. Có những người yêu nhau, ngày nào cũng khổ, đó là tình yêu hệ luỵ, chỉ mang tới sự khổ đau. Yêu thương ai đó thực sự, nghĩa là làm cho người ta hạnh phúc, mỗi ngày.
   “Bi” là khả năng người ta lấy cái khổ ra khỏi mình. Mình đã khổ, người ta làm cho thêm khổ, đó không thể là tình yêu đích thực. Còn gì cho nhau nếu chỉ có khổ đau tuyệt vọng. Người yêu mình phải là người biết sẻ chia, biết xoa dịu, làm vơi bớt nỗi khổ của mình trong cuộc đời.
Như vậy, “từ bi” theo Phật dạy là khả năng đem lại hạnh phúc cho nhau.
Yêu thương ai là phải làm cho người ta bớt khổ. Nếu không, chỉ là đam mê, say đắm nhất thời, không phải là tình yêu thương đích thực. “Từ bi” trong tình yêu không phải tự dưng mà có. Phải học, phải “tu tập”. Cần nhiều thời gian, để quan sát, để lắng nghe, để thấu hiểu những nỗi khổ niềm đau của người yêu, để giúp người ta vượt qua, tháo gỡ, bớt khổ đau, thêm hạnh phúc.
      “Hỉ” là niềm vui, tình yêu chân thật phải làm cho cả hai đều vui. Dấu ấn của tình yêu đích thực là niềm vui. Càng yêu, càng vui, niềm vui lớn, cả gia đình cùng hạnh phúc. Cuộc nhân duyên như thế là thành công.
      “Xả” là không phân biệt, kì thị trong tình yêu. Mình yêu ai, hạnh phúc của người ta là của mình, khó khăn của người ta là của mình, khổ đau của người ta là của mình. Không thể nói đây là vấn đề của em/ anh, em/ anh ráng chịu. Khi yêu, hai người không phải là hai thực thể riêng biệt nữa, hạnh phúc khổ đau không còn là vấn đề cá nhân. Tất cả những gì mình phải làm coi đó là vấn đề của hai người, chuyển hoá nỗi khổ đau, làm lớn thêm hạnh phúc.
      Này người trẻ, bạn nghĩ về tình yêu của mình đi, có “từ bi hỉ xả không”? Bạn hãy can đảm tự hỏi mình rằng “Người yêu ta có hiểu niềm vui nỗi khổ của ta không? Có quan tâm đến an vui hàng ngày của ta không? Người ấy có nâng đỡ ta trên con đường sự nghiệp không?...” Và tự hỏi lại mình, liệu bạn có đang thành thực với tình yêu của mình?! Liệu tình yêu của bạn đã đủ “từ bi hỉ xả”?!
Tình dục và tình yêu
     Phật giáo quan niệm như thế nào về tình dục trong tình yêu? Không phải ngẫu nhiên mà vị thiền sư tôi được hạnh ngộ bắt đầu vấn đề này bằng cách bàn về “thân tâm” trong truyền thống văn hoá Á Đông.
      Trong truyền thống văn hoá ta, thân với tâm là “nhất như”, tức là nếu ta không tôn kính thân thể người yêu thì cũng không tôn kính được tâm hồn người ấy. Yêu nhau là giữ gìn cho nhau, kính trọng nhau. Khi sự rẻ rúng xem thường xảy ra thì tình yêu đích thực không còn.
Thân thể ta cũng như tâm hồn ta. Có những nỗi niềm sâu kín trong tâm hồn, chúng ta chỉ chia sẻ với người tri kỉ. Thân thể ta cũng vậy, có những vùng thiêng liêng và riêng tư, ta không muốn ai chạm tới, ngoài người ta yêu, ta tin, ta muốn sống trọn đời, trọn kiếp.
     Trong tình yêu lớn và cao quý, bất cứ lời nói và cử chỉ nào cũng phải biểu lộ sự tương kính. Người con trai phải tôn trọng người con gái mình yêu, cả thân thể lẫn tâm hồn. Người con gái biết giữ gìn, cũng là biết làm người yêu thêm tương kính, nuôi dưỡng hạnh phúc lâu dài về sau.
Bạn muốn thương yêu theo phương pháp Phật dạy chăng? Hãy hiểu, thương và tương kính người yêu của mình, cũng chính là đem hạnh phúc đến cho người và cho mình vậy!

Hằng Nguyễn
Theo Dân Trí

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2011

“Vấn nạn” giáo dục đến từ “tư duy kinh kệ”

     Tôn Thất Nguyễn Thiêm

       Bài này đăng đã lâu trên tạp chí Tia Sáng. Nhưng xem ra lối giáo dục của ta cũng chẳng có mấy thay đổi. Tôi thường cảm thấy lo lắng cho cách dạy và học ngày nay. Các cháu từ lớp 1 đã phải đi học thêm, học nhồi, học nhét. Về nhà tối lại còn làm biết bao nhiêu bài tập, mặc dù đã học cả 2 buổi ở trường. Thương con trẻ quá! Có bài toán lớp 2( cô cho về nhà) mà ông phải nghĩ mãi mới giảng được cho cháu. Lối  giáo dục theo tư duy kinh kệ vẫn phổ biến thì sao mà có nhiều người tài được! Buồn thay! Buồn thay!


         Hãy khởi đầu bằng mấy để giải quyết các vấn đề nêu ra chỉ sự việc: Cách đây hơn 30 năm (1973), một nhà G.Anderla, đã tính toán là tri thức của nhân loại được nhân lên gấp đôi mỗi 6 năm. Cách tính của Anderla như sau: cho rằng tổng số lượng kiến thức về khoa học của toàn nhân loại là một đơn vị vào năm thứ nhất trước công nguyên thì đơn vị ấy được nhân lên gấp đôi vào năm 1500. Phải đến hơn hai thế kỷ rưỡi sau vào năm 1750 - số lượng tri thức đó mới được nhân gấp hai. Và cấp số nhân đôi ấy có những chặng thời gian sau: 1900, 1950, 1960, 1976 và 1973. Nói gọn: Kể từ thập niên 60 của thế kỷ XX, kiến thức khoa học của nhân loại chỉ cần khoảng thời gian dưới 7 năm để tăng gấp đôi. Và thời gian ấy càng ngày càng được thu ngắn.
      Trong chiều hướng ấy, sẽ chẳng có gì ngạc nhiên khi số liệu thống kê có từ các nước phát triển cho biết, kế từ 1995, trung bình tối thiểu mỗi ngày (đúng là mỗi ngày!) có ít nhất là 4.000 tựa sách khoa học không chỉ được phát hành mà còn được bổ sung vào thư mục ở các thư viện của các đại học và trưng tâm nghiên cứu.
      Thêm một sự kiện: hơn 10 năm trước (1993), kết quả được công bố của một công trình nghiên cứu kéo dài suốt 15 năm đã gây một chấn động trong giới giáo dục đào tạo ở Mỹ trong lứa tuổi từ 3 -5 tuổi, 98% thiếu nhi có những sáng tạo độc đáo trong cách tiếp cận và giải đáp những vấn đê được đặt ra từ nhiều dạng câu hỏi. Nhưng đầu óc sáng tạo ấy lại giảm dần theo thời gian: từ 8 đến 10 tuổi, tỷ lệ chỉ còn là 32%. Và từ 13 - 15 tuổi, chỉ còn 10%. Và điều đáng nói là đối với 200.000 người trên 25 tuổi cỏ trình độ học vấn và bằng cấp cao, trước những câu hỏi cùng hình thức và nội dung, tỷ lệ sáng tạo độc đáo để giải quyết các vấn đề nêu ra chỉ còn là 2%.
      Đặt các số liệu trên bối cảnh “trồng người" ở đất nước ta nhằm gợi lên một số "vấn nạn”:
Trước tốc độ tiến bộ đến chóng mặt của kiến thức nhân loại, học cơ bản là để "Biết " hay để "Hiểu”? Câu hỏi đã hàm chứa câu trả lời: tiếng Việt ta, trong từ "Hiểu biết ", "Hiểu” được đặt trước "Biết"! Quan niệm ấy, vô hình chung, rất thích ứng với tiến độ phát triển của khoa học: sẽ chẳng bao giờ có thể "biết" hết được tri thức mỗi ngày mỗi mới! Do đó, "hiểu” mới mang đến cho ta khả năng (may ra!) vận dụng những kiến thức tiếp thu được một cách nhuần nhuyễn và sinh động. Từ đó, dễ dàng thấy ngay sự vô cùng nguy hại của việc học theo kiểu “nhồi nhét" và "thầy đọc trò chép".
Tại sao cơ bản lại xảy ra điều “nhồi” và "nhét", “đọc" và "chép" nói trên? Ngẫm cho kỹ, tiến trình ấy đến từ "tư duy kinh kệ” (kinh kệ là chữ dùng chính xác hơn so với kinh điễn) “sợ sai" so với các "bài bản, giáo trình, đề cương, huấn thị". Thêm nữa, "sợ sai" còn ảnh hưởng rất nhiều đến tinh thần trách nhiệm của người giảng dạy trong việc tìm tòi, nghiên cứu: tư duy khoa học đòi hỏi một đầu óc khai phá, nghĩa là một tư thế sẵn sàng chấp nhận là mình sai! Vì thế, "sợ sai" là vật cản tâm lý chứ không phải là một động lực thúc đẩy tiến trình tìm hiểu và khám phá trong khoa học!
       Đầu óc sợ sai và và thiếu hụt về tinh thần trách nhiệm nói trên, không cần dài dòng, và cũng hiểu ngay là được san sinh từ một cơ chế Nhà nước cứng nhắc trong việc tổ chức giáo dục đào tạo. Tuy nhiên, cũng đừng quá ảo tưởng: xóa bỏ độc quyền của Nhà nước trong lĩnh vực gián dục đào tạo và càng ngày càng mở rộng cơ chế dân lập tự quản không có nghĩa là tri thức nước nhà đương nhiên được cải tiến nếu trong tư duy giảng dạy và phương pháp học tập vẫn còn phổ biến đâu óc độc đoán!
Độc đoán cơ bản đến từ một quan niệm xưa cũ về vai trò của người thầy: dựa vào khuôn mẫu “nửa chữ cũng là thầy", người dạy trong bối cảnh của kiến thúc khoa học của thế giới mỗi ngày một tăng và đổi mới mang trong tiềm thức của mình một oái oăm ghê gớm! Đó là một "mặc cảm tự ti" trá hình thành một loại "tụ tôn” để che giấu những khiếm khuyết của mình! Nói cách khác, nhằm che đậy mặc cảm ấy, người dạy chọn phương pháp "tối ưu nhất" là cứ "theo bài bản mà truyền” và "theo giáo trình mà đọc"! Gọn: không thể sai vào đâu được khi mọi thứ thầy dạy đều đã có trong sách! Mà đã không sai thì không có gì để có thể đào sâu tranh luận! "Kinh" du biến thành "kinh" khi có nhiều người cứ thế "kệ"! Mà càng có nhiều "kinh kệ" thì hệ quả tất yếu là sự phát triển ngày càng nhiều của đâu óc độc đoán! Quên mất rằng ở thời buổi bùng nổ tri thức, hàng vạn chữ cũng chưa "thấm thía" gì huống hồ chỉ là "nửa chữ". Nhất là trong tiếng Việt ta "chữ" van thường phải đi liền với "nghĩa": "chữ nghĩa"! Chữ chỉ là một âm sắc vô hồn nếu nó vô nghĩa? Vì thế, không ít thầy che cái "vô nghĩa" của "con chữ" mình giảng truyền hằng cung cách độc đoán!
Thầy đã thế thì trò khó mà khác được! Nói gọn: thầy đã sợ sai, sợ trách nhiệm và độc đoán thì trò nào dám nói ngược lại thầy. Do đó, dù có bỏ cơ chế độc quyền trong giáo dục đào tạo thì đầu óc và tâm lý độc quyền vẫn cứ trường tồn và phát triển nếu người giảng dạy không dám lấy trách nhiệm phát huy ở người học tinh thần dám đương đầu với cái sai để luôn luôn hướng về việc tìm kiếm cái đúng!
Trong một nền giáo dục mà tính chủ thể của cá nhân con người được đề cao đến như ở Mỹ mà kết quả chỉ 2% những người có học vấn và bằng cấp cao là có được đầu óc sáng tạo thì vấn đề ấy còn gay gắt đến mức độ nào trong một cơ chế tâm lý xã hội mà đầu óc độc quyền, độc đoán, sợ trách nhiệm và sợ sai vẫn còn phổ cập?
        Tuy nhiên, vấn đề trên có thể được hình dung theo một chiều hướng khác: với một đất nước có một dân số gồm nhiều lớp trẻ đầy năng động, nếu đường lối giáo dục đào tạo biết phát huy đầu óc sáng tạo và khai phá trong khoa học thì đất nước ấy sẽ có thêm được một khả năng để phát triển so với những đất nước dù đã có nhiều thành tựu về kinh tế nhưng tháp dân số lại càng ngày càng già cỗi và xã hội đã vơi đi khá nhiều ước vọng chính đáng về ý nghĩa hạnh phúc của kiếp nhân sinh!
Theo Tạp chí Tia sáng

Tổng số lượt xem trang