ĂN UỐNG VÀ SỨC KHỎE

PHONG BENH HON CHUA BENH

TRI THUC LA SUC MANH

Thứ Hai, 15 tháng 4, 2013

   Hỏi cách chữa ung thư vú theo Khí Công Y Đạo

Câu hỏi:
Một bệnh nhân khai bệnh bị ung thư vú.
Lúc bụng đói, huyết áp  tay trái :104/60/82, tay phải 100/63/81
Sau khi ăn, huyết áp  tay trái : 97/61/90, tay phải 100/67/88
Chân trái 132/88/87, chân phải 187/130/95
Xin Thầy Ngọc chỉ cho cách chữa.
Trả lời :
A-Nguyên nhân :
Bệnh ung thư vú có ba nguyên nhân theo Tinh-Khí-Thần :
Về Tinh : Ăn uống không đủ chất bổ máu, nên cơ thể thiếu máu. Áp huyết bên tay trái liên quan đến bao tử sau bữa ăn áp huyết bị tụt thấp, chứng tỏ chức năng bao tử yếu quá, lại ăn thức ăn có chất chua, áp huyết mới bị hạ thấp, còn áp huyết tay phải liên quan đến gan, trước và sau khi ăn giống nhau là chức năng gan không làm việc. Theo Đông y, gan chứa máu cung cấp cho tim tuần hoàn bơm máu đi nuôi khắp cơ thể, vì không đủ máu nên nhịp tim phải đập nhanh hơn, gan chủ nuôi dưỡng gân, thần kinh, những ống mạch máu, không đủ máu, các sợi gân co thắt nhỏ lại làm tắc tuần hoàn máu lên tuyến vú.
Về Khí : Lười tập luyện, nên người không có đủ sức khỏe, không đủ khí lực đẩy máu tuần hoàn thông tuyến vú như bình thường.
Về Thần : Do buồn tình, chán đời, mắc bệnh thở dài nhiều năm làm phế khí suy, thay vì con hư phải bổ mẹ là tỳ, vị, cần phải ăn khỏe, ăn ngon, ăn nhiều hơn bình thường, trường hợp này, theo số đo áp huyết thì ngược lại, tỳ vị suy yếu làm phế kim suy yếu. Khi tuyến vú teo thắt nhỏ lại do gan, khiến tắc tuần hoàn, những tế bào bị cô lập thiếu oxy từ phế nuôi dưỡng, nên tế bào trở thành tế bào bệnh phát triển thành bướu.
B- Cách điều chỉnh Tinh-Khí-Thần :
Tinh:
a-Cần phải bổ máu bằng Vitamine B12 và truyền nước biển làm tăng áp huyết. Uống thêm sirop bổ máu Đương Quy Tửu (Tankwe-gin) pha 2 muỗng lớn sirop với 1 ly nước nóng uống trước mỗi bữa ăn 5 phút để kích thích thèm ăn, ăn nhiều những chất tạo máu như rau dền, củ dền, thịt bò bí-tết, lẩu đồ biển, hải sâm. Kiêng ăn chất chua hàn lạnh.
b- Tuyến vú là nơi đưa chất bổ của khí huyết chuyển thành sữa để nuôi thai nhi, có chức năng như một bao tử của em bé, cùng chức năng với bao tử của người mẹ, nó cũng thuộc hành thổ, khi thổ hư, phải bổ hai hành liền nhau vừa bổ thổ, vừa bổ phế kim để ngừa biến chứng. Bổ thổ nuôi kim bằng cách ngậm trong miệng 20 viên Bổ Trung Ích Khí hoàn sau mỗi bửa ăn. Bổ Phế kim bằng cách tập luyện khí công.
c- Cuối tuần uống 3 viên Phan Tả Diệp (Senna Laxatif) để tống độc tố trong gan, và những độc tố từ những tế bào ung thư trong vú theo ra ngoài bằng đường phân, phân sẽ có mầu đen xanh lỏng nát. khi phân ra thành khuôn có mầu vàng là cơ thể đã hết độc tố.
Khí :
Tập theo cách hướng dẫn mới này, thay vì tập kiểu cũ đã hướng dẫn trong bài Thói Quen Thở Dài Và Bệnh Ung Thư Vú đính kèm. Đây chính là cách chữa ung thư bằng oxy liệu pháp, dùng oxy diệt tế bào ung thư.
a-Vỗ Tay 4 Nhịp 10 phút mỗi lần, mỗi ngày tập 3 lần, thay vì hít thở, thì vừa vỗ tay vừa hát one.two, three….theo DVD hướng dẫn, hơi thở sẽ đều hơn, còn hát làm tinh thần vui vẻ, hết buồn chán thở dài.
b-Tập bài Vỗ Tâm-Thận 3 phút mỗi lần, mỗi ngày tập 3 lần, cũng vừa vỗ tâm thận vừa hát one, two, three…công dụng đóng mở tuyến vú.
c-Tập bài Quay Vặn Khớp Vai 50 lần, mỗi ngày tập 3 lần. Công dụng mạnh phế, ép cơ tuyến vú đẩy độc tố ra ngoài.
d-Nạp Khí Trung Tiêu 5 lần rồi tiếp bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 200 lần sau 3 bữa ăn 30 phút, thêm hai lần vào sáng và tối, tổng cộng mỗi ngày tập 1000 lần giúp thông khí huyết tăng cường oxy tiêu diệt tế bào ung thư.
e-Bấm các huyệt hướng dẫn trong bài Thói Quen Thở Dài…vừa để chữa, vừa kiểm tra kết qủa trong điều trị.
f-Nên bơi lội mỗi tuần 3 lần. Những người nữ bơi lội đều đặn thường xuyên mỗi tuần không bao giờ bị bệnh ung thư vú.
Thần :
Trước khi đi ngủ 30 phút tập lại bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 200 lần, xong cuốn lưỡi, ngậm miệng, nhắm mắt, thở bằng mũi bình thường, hai bàn tay để ở Đan Điền Thần, nữ đặt bàn tay phải lên mỏm xương ức, bàn tay trái đặt chồng lên trên, chỉ cần theo dõi khí huyết chạy từ vú tới bụng, khí huyết từ trung tiêu vào vú, cảm nhận vú phồng lên nhận oxy, rồi cảm nhận có chất nước trong vú chảy xuống bụng, cảm nhận chất độc thoát ra.
Bài tập này cũng có thể tập trong ngày, nhưng bàn tay không đặt ở Đan Điền, mà dùng một bàn tay nắm vú ở điểm đau hay ở khối u bướu không đau, bàn tay kia dùng 3 ngón ấn đè vào huyệt Trung Quản, để ý mỗi lần thở ra bằng miệng cho thoát hơi ra nhẹ, thì tưởng tượng vú là qủa bóng, dùng bàn tay bóp nhẹ cho khí thoát ra, rồi giữ lại ở mức đó, chờ hơi thở ra, lại thổi hơi ra và bóp cho khí huyết trong vú ra tiếp, cứ thở hơi ra thì bóp hơi trong vú ra tiếp, đến khi nào vú xẹp đến mức tối đa mà không đau, thì giữ lại ở mức đó, không cho khí vào vú, vẫn tiếp tục tập thổi hơi ra cho những độc tố chảy xuống bụng, mà không có đường trở về vú, giúp cho nó chuyển hướng không vào vú mà vào bụng. Tập 5-10 phút, rồi thả vú ra từ từ, chứ không hít vào mạnh, vú sẽ không nhận máu độc vào vú. Kiểm tra lại, bằng cách sờ nắm không còn thấy bướu, nếu bướu to sẽ cảm thấy bướu nhỏ dần. Tập mỗi ngày cho đến khi khỏi bệnh.
Đỗ Đức Ngọc

Thứ Tư, 10 tháng 4, 2013


KHỎE VỚI "DƯỠNG SINH NGUYỄN KHẮC VIỆN"

TUỔI TRẺ - Tại VN, việc tập dưỡng sinh để nâng cao sức khỏe có nhiều phương pháp tập khác nhau, trong đó bài dưỡng sinh hiện đại do giáo sư - bác sĩ Nguyễn Khắc Viện nghiên cứu, sáng lập và giảng dạy được nhiều người áp dụng.
Trong 10 năm điều trị bệnh lao ở Pháp (1942-1952), Nguyễn Khắc Viện phải lên bàn mổ bảy lần, cắt bỏ tám xương sườn và hơn một lá phổi. Là một bác sĩ, “vật lộn” với đủ loại thuốc men và máy móc kỹ thuật của một nền y học hiện đại, ông nhận rõ nếu chỉ dựa vào Tây y, ông không thể trở về hoạt động với cộng đồng. Từ đó, trên cơ sở nghiên cứu yoga, khí công của Ấn Độ, Trung Quốc, ông đã hình thành phương pháp tập luyện, trước hết để tự cứu mình. Nguyễn Khắc Viện về nước năm 1963, trong suốt hơn 30 năm sau đó (ông mất năm 1997), ông đã hoàn thành một khối lượng lớn công việc được đánh giá là “những di sản đồ sộ”.
Hiện nhiều nơi đã áp dụng bài tập dưỡng sinh của Nguyễn Khắc Viện, trong đó có Câu lạc bộ “dưỡng sinh Nguyễn Khắc Viện” tại Nhà xuất bản Thế Giới (Hà Nội) và Câu lạc bộ Dưỡng sinh tại Cung văn hóa Lao động TP.HCM.
Bài vè tập thở
Phương pháp “dưỡng sinh Nguyễn Khắc Viện” cũng bắt nguồn từ yoga, khí công. Tuy nhiên, quan niệm của cố bác sĩ Nguyễn Khắc Viện là chỉ nắm chắc những nguyên tắc cơ bản và dựa trên sinh lý học hiện đại để xây dựng phương pháp tập luyện mà mọi người đều có thể áp dụng nhằm nâng cao sức khỏe, chứ không nhằm đạt những kỷ lục và “phép lạ” (như cho ôtô đè lên, hoặc chịu chôn sống nhiều giờ vẫn không chết...).
Phương pháp “dưỡng sinh Nguyễn Khắc Viện” là cách luyện tập toàn diện: động và tĩnh, nội và ngoại, giúp con người làm chủ được cơ thể, nâng cao sức khỏe, giữ được bình tĩnh, đỡ mệt mỏi, nhất là trong những lúc làm việc căng thẳng. Có ba khâu tập là thở, vận động và thư giãn (luyện ý), liên quan đến hoạt động của ba bộ phận chủ yếu của cơ thể là nội tạng, cơ bắp, thần kinh.
Trong đó tập thở bụng cho đúng cách là quan trọng nhất, vì cách thở bụng tác động trực tiếp đến những bộ phận nội tạng rất quan trọng là tim, phổi, dạ dày, ruột, dạ con (có thể hình dung các bộ phận này luôn được “thể dục”, được “xoa bóp” lúc thở); thở tốt giúp lưu thông khí huyết, tác động tích cực đến hoạt động cơ bắp và thần kinh.
Bài tập thở đã được bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đúc kết thành một bài vè cho dễ nhớ: “Thót bụng thở ra/ Phình bụng thở vào/ Hai vai bất động/ Chân tay thả lỏng/ Êm, chậm, sâu, đều/ Tập trung theo dõi/ Luồng ra luồng vào/ Bình thường qua mũi/ Khi gấp qua mồm/ Đứng, ngồi hay nằm/ Ở đâu cũng được/ Lúc nào cũng được”.
Với phần tập vận động, thư giãn (luyện ý), từ lý thuyết đến các động tác cụ thể, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã giới thiệu trong cuốn Từ sinh lý đến dưỡng sinh (NXB Y Học - 1979; NXB Đồng Nai - 1988) và cuốn Dưỡng sinh dành cho mọi lứa tuổi (NXB Trẻ - 1993) với hình thức hỏi - đáp đơn giản, dễ hiểu. Nếu thiếu thời gian để tập đủ các động tác, bạn có thể tự chọn cách tập thích hợp, trên cơ sở nắm vững những nguyên lý, quan niệm của phương pháp dưỡng sinh.
Tập từ lúc còn trẻ
Thời đại ngày nay việc khiêng vác nặng đã có máy móc làm thay, con người cần thực hiện được những động tác nhanh, chính xác và luôn giữ được bình tĩnh. Cách tập vận động phải theo nguyên lý cứng tối thiểu, mềm tối đa. Tay có mềm dẻo mới nhanh được. Người thợ rèn quai búa, chị chèo đò cũng nhờ hoạt động theo nguyên lý này nên vừa có hiệu quả cao, vừa đỡ mệt mỏi. Giữ cho cơ thể mềm mại, thả lỏng những cơ bắp lúc không sử dụng cũng là cách thư giãn dễ thực hiện, có hiệu quả và tiết kiệm được sức lực.
Ví như ngồi nghe giảng, chân và tay chẳng việc gì phải căng cứng; hãy thả lỏng và kết hợp thở bụng, bạn sẽ thấy đỡ mỏi mệt. Bản thân bác sĩ Nguyễn Khắc Viện trong những năm cuối đời, khi tuổi đã cao, chủ yếu cũng chỉ thực hiện thở bụng, buông chùng da mặt, thả lỏng tay chân để thư giãn, giữ cho cơ thể luôn được mềm dẻo.
Cái khó nhất của phương pháp “dưỡng sinh Nguyễn Khắc Viện” là sự kiên trì, ngày nào cũng phải tập, riêng thở bụng thì giờ nào cũng tập để trở thành thói quen. Điều quan trọng là đừng đợi đến lúc già yếu, hãy tập từ lúc còn trẻ trung, khỏe mạnh. Đừng để tình trạng nhiều nơi chỉ thấy các ông bà già tập luyện từ lúc còn mờ đất, còn tuổi trẻ thì dậy trưa.
Sẽ có bạn bảo rằng tuổi trẻ quá nhiều mục tiêu phấn đấu, không còn thời gian để tập luyện. Nếu quả vậy, chỉ cần tập thở đúng cách - thở ngay trong lúc học, làm việc, không mất chút thời gian nào mà có thể đã đạt được quá 50% hiệu quả của phương pháp “dưỡng sinh Nguyễn Khắc Viện”.
NGUYỄN KHẮC PHÊ

Báo Tuổi trẻ Thứ Ba, 27/06/2006

Thứ Hai, 8 tháng 4, 2013


Bảy định luật về Năng Lượng Siêu Nhiên
Lời giới thiệu :
Trong thời đại ngày nay, ánh sáng của khoa học soi sáng khắp các nơi, vào mọi lãnh vực hiểu biết của con người . Nhưng có một lãnh vực hiểu biết rất quan trọng khoa học cố soi hoài mà không thấy sáng, đó là lãnh vực tâm linh, tu hành.
Nhiều nhà khoa học tây phương cố gắng đem tinh thần khoa học soi sáng thế giới siêu hình, tuy chưa thành công lắm nhưng họ đã có nhiều cố gắng rất đáng khen. Trong chiều hướng đó, luật sư Victor Zammit đã viết nhiều bài nghiên cứu tôi đọc rất thích thú. Sau đây xin dịch lại để giới thiệu với các bạn một bài về 7 định luật năng lượng siêu nhiên. Ông bảo rằng “Chuyện gì cũng có luật lệ riêng – luật dân sự và hình sự để hướng dẫn sinh hoạt con người, luật vật lý mô tả các lực vận hành trong vũ trụ, luật sinh học và các luật khác nữa.
” Khi muốn học một ngành khoa học nào chúng ta học các định luật của nó trước”.

Học khoa học huyền bí cũng vậy, bài này sẽ giới thiệu một số định luật quan trọng trong cõi vô hình.
Bảy định luật về Năng Lượng Siêu Nhiên.
(The Seven Laws of Psychic Energy)
Những định luật này bất biến, đã và đang hiện hữu mãi mãi.
Khoa học gia thuộc khuynh hướng cổ điển thế tục cùng các nhà ‘tân’ khoa học đã thừa nhận rằng tất cả vật chất hữu hình và sóng vô hình của thế gian đều có thể thâu về dạng căn bản nhất là ‘chấn động lực’ .
Nhưng các nhà khoa học duy vật theo thuyết giản hóa vẫn cố bác bỏ sự hiện diện của loại ‘năng lượng phi vật chất’ – họ nói bởi vì không thể đo lường nó trong phòng thí nghiệm – cho nên nó không tồn tại. Nhưng có rất nhiều hiện tượng siêu hình đang hiển hiện giữa thế gian mà ta không thể đem ra để đo lường theo yêu cầu của phòng thí nghiệm. Ví dụ đơn giản nhất : tình yêu thương không thể nào cân đo đặng, phải chăng vì thế mà nó không hiện hữu ?
Năng lượng phi vật chất có thể được dùng để giải thích các hiện tượng siêu nhiên. Giáo sư Fred Hoyle – nhà thiên văn Anh quốc – cùng với các khoa học gia khác bảo rằng đến khi nào khoa học có thể điều khiển được năng lượng phi vật chất, thì ngành khoa học cổ điển sẽ trở nên cổ lổ giống như máy hơi nước.
Không có bất cứ khoa học gia duy vật hoặc các giáo sư ba hoa nào trên thế giới có đủ khả năng bác bỏ những bằng chứng khách quan về sự hiện hữu của năng lượng siêu hình.
Sau đây quý vị sẽ tìm thấy các định luật về năng lượng được thâu thập từ hơn vài trăm năm nay qua kinh nghiệm tích lũy của loài người.
Khi mới nghiên cứu về những hiện tượng siêu nhiên tôi đã cố tìm tòi những định luật của nó, và thấy rằng mặc dầu các định luật đã xuất hiện từ sự gợi ý của cá nhân, hầu như chưa có ai khởi công đúc kết thành những định luật siêu nhiên phổ quát.
Chuyện gì cũng có luật lệ riêng – luật dân sự và hình sự để hướng dẫn sinh hoạt con người, luật vật lý mô tả các lực vận hành trong vũ trụ, nào là luật sinh học và các luật khác nữa.
Các nhà khoa học duy vật cho rằng họ có thể giải thích sự hiện hữu của vạn vật với thuyết ngẫu nhiên, nhưng khoa học gia hiện đại và nhiều người khác không đồng ý. Bởi nếu vũ trụ vận hành theo ngẫu nhiên, thì điều này chỉ có xác xuất đến 1 phần tỷ tỷ mà thôi – thật là vô lý.
Hầu hết mọi người đã chấp nhận sự hiện hữu của các định luật về năng lượng nhưng vẫn chưa hiểu rỏ. Cho nên ta cần phải xem xét lại nội dung những định luật này vượt qua tầm nhìn giản hóa hẹp hòi.
Nay người viết xin đề nghị đúc kết lần đầu tiên về những định luật năng lượng siêu nhiên – các luật này vận hành không những trong cõi hữu hình mà luôn cả trong cõi siêu hình.
Hơn phân nữa nhân loại ngày nay sẵn sàng công nhận giá trị của các định luật này, nhưng cũng cần một thời gian khoảng vài thập niên nữa để cho mọi người hoàn toàn chấp nhận.
1. Định luật đầu tiên về năng lượng siêu nhiên (NLSN):
Mọi vật thể ‘hữu hình’ vốn là chấn động lực.
Các làn sóng vô hình cũng là chấn động lực – như âm thanh, sóng truyền hình truyền thanh, điện lực, ánh sáng, vi ba, tia X, tia gamma, và các sóng năng lượng siêu nhiên.
Lời bàn (của người dịch): Ngày xưa học môn vật lý tôi biết rằng hạt nguyên tử là cấu trúc cơ bản nhất của vạn vật. Ngày nay khoa học tiến bộ đã tìm thấy những yếu tố siêu hơn trong cấu trúc vạn vật được gọi là chấn động lực.
2. Định luật thứ nhì về NLSN:
Tâm thức (mind) mỗi người là một ‘trạm năng lượng’ (energy station) có khả năng thâu và phóng năng lượng.
Ý chí có khả năng làm thay đổi dạng năng lượng.
Tư tưởng và hình ảnh, vốn là sóng năng lượng, có thể chuyển vận qua lại giữa tâm thức con người trong cỏi trần và gởi đến con người hoặc thiêng liêng ở cỏi bên kia qua tiến trình thần giao cách cảm.
Lời bàn :Nguyên lý của điện thoại di động khiến cho ta tin rằng chuyện thần giao cách cảm là có thật. Nhờ cái điện thoại nó chuyển âm thanh của tiếng nói chúng ta thành tần số thích hợp, cùng tần số với người nhận rồi chuyển đi cho người phía bên kia thì họ có thể nhận và nghe. Tư tưởng cũng vậy, nếu ta biết biến đổi tần số tư tưởng của mình cho cùng tần số với người nhận thì ta có thể dùng thần giao cách cảm để liên lạc với nhau.
3. Định luật thứ ba về NLSN:
(Đến đây xin dịch ‘năng lượng siêu nhiên’ bằng từ ‘điển quang’ cho gọn)
Mọi người đang sống đều sở hữu một hình hài cấu tạo bằng chấn động lực, đây là bản phóng ảnh của thể xác và nó vẫn tồn tại sau khi thể xác chết.
Thể điển quang này mắt thường không thấy được, nó có khả năng đổi dạng, trường tồn và lưu giữ cảm thức.
Lúc thể xác chết đi, thể điển quang sẽ đạt đến một trình độ tần số chấn động nào đó và sẽ nhập vào cỏi điển giới tương ứng.
Những công quả với tính cách vị tha sẽ làm gia tăng tần số của thể điển quang.
Lời bàn : Chắc ai cũng biết làm việc vị tha như bố thí, giúp đỡ, thi ân không cầu báo đáp giúp linh hồn tiến hoá lên cỏi cao. Chuyện làm cho tần số điển quang gia tăng vẫn còn là một bí mật của vũ trụ, rất ít người biết. Người tu họ cứ hành trì các pháp hàng ngày nhưng không biết tần số điển quang của mình đang gia tăng nhanh hay chậm lại. Có thể chăng nên gọi đây là cơ sở khoa học của sự tiến hoá tâm linh nhân loại trong tương lai ?
4. Định luật thứ tư về NLSN:
Thế giới bên kia cửa tử có nhiều trình độ điển quang. Điển quang là nền tảng hình thành các cảnh giới khác nhau tùy theo tần số chấn động.
Cỏi nào có tần số chấn động lực càng nhanh thì những sinh linh ngụ cư nơi đó càng tiến hoá cao.
Lời bàn : Nói theo khoa học huyền bí thì sự khác biệt chính yếu giữa các cỏi là tần số chấn động lực. Chắc chắn tần số của địa ngục chậm hơn thế gian và tần số của thế gian chậm hơn thiên đàng. Có lẽ vì vậy mà ngày xưa Lưu Nguyễn lạc vào thiên thai chỉ có vài năm, đến khi trở về thế gian mới hay đã vài chục năm trôi qua. Và nếu đúng như vậy thì một kiếp ở cỏi người ắt là tương đương cả trăm ngàn năm ở cỏi địa ngục thấp nhất ?
Trở lại cuộc sống hàng ngày, có một kinh nghiệm mà ai cũng biết, đó là hiện tượng ‘Ngày vui qua mau’. Chắc có người cũng thắc mắc không biết tại sao ngày vui lại trôi qua nhanh quá. Tôi cho rằng đinh luật thứ 4 này giải thích được lý do tại sao . Bởi vì có những hoàn cảnh tốt đẹp đã kích thích năng lượng tinh thần con người làm cho nó rung động nhanh hơn, vì vậy mà họ cảm thấy thời gian trôi qua nhanh hơn ?
5. Định luật thứ năm về NLSN:
Một sinh linh có tâm linh càng tiến hóa cao thì hào quang càng sáng rực.
Lời bàn : Nhiều người thấy hình vẽ trên đầu Phật và Chúa đều có hào quang. Ngày nay đã có máy chụp hình hào quang nhưng chưa được sử dụng rộng rãi, có lẽ vì hào quang vẫn còn xa lạ với con người ?
6. Định luật thứ sáu về NLSN:
Tần số điển quang rung động chậm lại sẽ khiến thể vô hình hoá thành hữu hình (hoá sắc tướng – materialisation).
Tần số điển quang rung động nhanh lên sẽ khiến sắc tướng hườn hư (qui không – de-materialisation).
Lời bàn :
- Định luật này chỉ rỏ hai đường lối tiến hoá : Đạo và Đời. Tiến về đạo thì điển quang tinh khí thần sẽ qui không, tiến về đời thì điển quang vô hình sẽ trụ hoá thành sắc tướng : tham sân si, danh lợi tình.
- Có thể nói đây là một định luật về sự chuyển hoá giữa hai loại năng lượng sắc và không. Định luật này giải thích nhiều hiện tượng về tu đạo như : Tinh hoá Khí, Khí hoá Thần, Thần hườn Hư (qui không) . Hiện tượng các vị chân sư dùng năng lượng tâm linh để biến hoá ra vật chất như rượu, bánh,…(hoá sắc tướng).
- Định luật này có thể được vận dụng để giúp minh định chánh tà ? Ví dụ chiều hướng của chánh pháp là đem nội lực tinh thần qui không (sự thanh tịnh, tình yêu thương, trí huệ); còn chiều hướng của tà đạo là đem thể tinh thần siêu hình hướng ngoại hoá ra sắc tướng, gọi nôm na là ‘lấy đạo tạo đời’.
Áp dụng vào đời sống hàng ngày thì đây là nguyên lý của sự sáng tạo trong mọi lãnh vực. Ví dụ, khi con người khởi phát một tư tưởng mới lạ còn nằm trong vùng vô hình mà muốn thể hiện ra cho mọi người thấy, thì phải biết đem nó dàn trải qua nhiều giai đoạn, tạo điều kiện cho tư tưởng từ vô hình dần dần hiển hiện cụ thể. Con người biết dùng tay chân, giác quan và dụng cụ để làm cho hình ảnh trong đầu rung động chậm lại, kết quả tư tưởng mới trở thành một hình ảnh sờ mó được .
Áp dụng vào việc tu hành : Đạo Phật biết rằng lục căn lục trần của con người là phương tiện để đem điển quang (thần lực) trụ hoá thành sắc tướng, nghĩa là làm cho tần số điển quang rung động chậm lại, cho nên phật giáo mới khuyên người tu nên bớt sử dụng lục căn lục trần để điển quang vô hình không bị hao tán, kinh Kim Cang dặn dò : ‘ưng vô sở trụ …’ . Ngược lại, phương tiện đem thần lực qui không là thiền định, niệm phật, thở sâu,… cho nên các pháp môn thường nghiên cứu và áp dụng những phương tiện này trong chương trình tu hành tiến hoá tâm linh.
7. Định luật thứ bảy về NLSN:
Luật Nhân Quả: trong thế giới năng lượng, mọi kích động đều gây ra một phản lực tương ứng, có nghĩa : năng lượng giống như một ‘boomerang’ – ‘năng lượng’ ta phóng ra sẽ trở về với ta không sai chạy.
Lời bàn : Đây là một trong những cách giải thích mới mẻ về luật nhân quả. Theo tôi thấy nó có vẻ khoa học hơn, bao trùm hơn. Ở đây tác giả đã dùng khái niệm năng lượng siêu nhiên để giải thích luật nhân quả.
Ta phóng ra tình thương thì tình thương sẽ trở lại với ta, có thể trở lại trong một dạng khác, nhưng bản chất vẫn là tình thương. Ta phóng ra sự sân hận đấu tranh hại người, thì nó sẽ trở lại với ta trong hình dáng những kẻ thù, ta thấy xung quanh toàn những người đến muốn làm hại mình.
Theo định luật này thì ta hiểu rằng nhân quả nối tiếp nhau hiện tiền chứ không hẳn phải chờ lòng vòng đến kiếp sau.
Nguồn: Victor Zammit,  The Seven Laws of Psychic Energy
Luân Lê dịch

Thứ Tư, 3 tháng 4, 2013




Sâm Đại hành- một kháng sinh thực vật quí

Sâm Đại hành còn có tên là tỏi Lào, hành đỏ, tỏi đỏ, phong nhan, hom búa lượt (Thái). Tên Khoa học là Eleutherine bulbosa, E.longifolia, hay E.Subaphylla. Họ Lay ơn (Iridaceae).
Sâm Đại hành là cây thảo, sống lâu năm, cao khoảng 30 cm. Thân hành, hình trứng thuôn, dài khoảng 5cm, đường kính 2,5 – 3cm, gồm nhiều vảy mỏng, màu đỏ nâu. Lá hình dải nhọn, có gân song song, giống lá cau hay lá dừa. Cụm hoa mọc từ thân hình thành chùm dài 20cm, hoa màu trắng, có cuống dài.
Cây rất dễ trồng, trồng bằng củ. Cây ưa đất đồi đỏ, đất pha cát. Trồng vào tháng 2- 3 dương lịch, thu hoạch củ vào tháng 9- 10 khi cây đã lụi. Những năm trước đây tôi thấy vùng Sơn Tây ( Hà Tây ngày trước) trồng rất nhiều.
Công dụng chính của sâm Đại hành là chống nhiễm khuẩn ngoài da, tiêu độc, chữa mụn nhọt, chốc, viêm da mủ, viêm phế quản, viêm họng cấp và mãn tính, đồng thời còn phòng nhiễm khuẩn sau khi đặt dụng cụ tránh thai. Từ lâu đời nhân dân vẫn dùng sâm Đại hành rắc lên vết thương cho chóng khô và mau lành.
Theo công trình nghiên cứu:” sâm Đại hành và viêm nhiễm đường hô hấp trên không đặc hiệu”, các bác sỹ Đỗ Hoài Nam, Hoàng Thị Lan từ tháng 3- 1978 đến 9-1978 đã dùng sâm Đại hành chữa cho 28 cháu viêm mũi họng và 27 cháu phế quản viêm co thắt, đạt kết quả tốt.
- Sâm Đại hành còn dùng để chữa thiếu máu, vàng da, phụ nữ kinh nguyệt không đều, đầu váng, mắt hoa, nhức đầu, mệt mỏi, mất ngủ.
Tôi thường dùng sâm Đại hành phối hợp với một số vị thuốc khác chữa viêm họng, viêm đường hô hấp trên, bệnh lở ngứa ngoài da, suy nhược, mất ngủ có kết quả tốt.
Sâm đại hành kho với cá, màu cá sẽ đỏ tươi, cá ăn ngon và bổ hơn, ăn củ sâm Đại hành rất bùi, các bạn cứ thử mà xem, tuyệt lắm.

Vương Văn Liêu

Thứ Hai, 1 tháng 4, 2013



Chữa thiếu máu bằng hoa Gạo
Trong KCY Đ chúng ta luôn phải chú ý để điều chỉnh các yếu tố Tinh- Khí – Thần cho phù hợp. Khi cơ thể thiếu máu sẽ sinh ra nhiều bệnh tật nguy hiểm. Để bổ máu có nhiều cách, sau đây giới thiệu 1 cách rẻ tiền nhất đã được kiểm chứng qua thực nghiệm tại Viện Quân Y 108 ( bài này đăng trên báo Khoa học và Kỹ Thuật 3-1981 của bác sỹ Nguyễn Thị Bảo). Thiết nghĩ, cây Gạo mọc khắp nơi trên đất nước ta, mùa này đang ra hoa nhiều, chúng ta có thể tận dụng để làm thuốc, nguồn thuốc dồi dào, an toàn, rẻ tiền.
Qua phân tích thành phần hóa dược, thấy nước sắc hoa Gạo chứa nhiều axit amin, pectin, tanin, đường, nhiều nguyên tố vi lượng như K, Mg, Cu, Zn, Si, Fe, Sr, Mn, Cl, B, coi như một dung dich bổ có hiệu lực. Ngoài ra còn có các loại hocmon như ostron, ostrađiola, ostriola, 7 xetosteroit, nhiều axit ascobic, malic, tatric, protein, đường... Thử trên thỏ, chuột, khỉ, nước sắc hoa gạo không gây ngộ độc cho con vật thí nghiệm.
Từ năm 1978- 1980, khoa Tiêu hóa và Huyết học Viện Quân Y 108 dùng hoa Gạo khô nấu cao 2:1, mỗi ngày uống 100ml trong 20 ngày liền( với thiếu máu thông thường) và kéo dài 40 ngày với thiếu máu suy tủy. Ứng dụng trên 75 trường hợp thiếu máu thấy kết quả như sau:
1. Đối với loại thiếu máu nhược sắc do các nguyên nhân rong kinh, đa kinh, chảy máu dạ dày- tá tràng, mất máu sau mổ vết thương, sỏi thận... mà tủy xương bình thường, cao hoa Gạo có tác dụng tốt trên 90% trường hợp.
2. Với các bệnh thiếu máu ác tính, suy tủy cao hoa gạo chỉ có tác dụng với thiếu máu giai đoạn lui bệnh và ngừng dùng thuốc hóa chất, suy tủy cấp và mãn có nguyên nhân.
3. Nước sắc hoa gạo với liều lượng trên không gây phản ứng phụ, người bệnh ăn ngủ tốt, tăng cân.
Vương văn Liêu

Tổng số lượt xem trang