ĂN UỐNG VÀ SỨC KHỎE

PHONG BENH HON CHUA BENH

TRI THUC LA SUC MANH

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2011

Bàn về chữa rong kinh

Bàn về chứng rong kinh
và chữa theo Diện chẩn
                                                            
                                                      Vương Văn Liêu ĐT 0913558331

(Ở đây không bàn luận về chứng u, bướu ở cơ quan sinh dục nữ - chứng hay gây ra rong kinh)

1. Theo Đông Y
 Nguyên Nhân : Đa số do mạch Nhâm và mạch Xung bsuy yếu, huyết hải không giữ  huyết lại được gây nên bệnh. Có  thể gặp một số nguyên nhân chính sau:
       a) Huyết Nhiệt: huyết gặp nhiệt thì chảy ra.
         Đặc điểm :  Kinh nguyệt ra nhiều, mầu đỏ tươi hoặc đỏ sẫm, dính, khát muốn uống nước  lạnh, tâm  phiền, hay mơ, nước tiểu vàng, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch Hoạt Sác.
          Điều trị: Thanh nhiệt, lương huyết, cố Xung, chỉ huyết.
 b)Huyết ứ: Người thường hay uất ứ, giận dữ, khí bị uất kết làm cho huyết bị ứ trệ hoặc  hoặc lúc có kinh hoặc sau khi sinh huyết còn dư không ra hết,  hoặc do ngoại tà hoặc do phòng sự không điều độ, ứ huyết tụ lại bên trong, ứ trở ở mạch Xung Nhâm, huyết không quy kinh được gây ra kinh nguyệt ra nhiều.
        Đặc điểm : Kinh ra nhiều, mầu đỏ tối, có cục, hành kinh thì bụng đau hoặc khi hành kinh bụng dưới trướng đau, lưỡi tím tối hoặc có vết ứ huyết, mạch Sáp có lực.
       Điều trị: Hoạt huyết, hóa ứ, cố Xung, chỉ huyết.
c) Khí hư: Khi khí bị hư, không nhiếp được huyết khiến cho huyết ra nhiều. Sách ‘Khôn Nguyên Thị Bảo’ viết: “Mạch Xung Nhâm hư yếu thì khí không nhiếp được huyết”.
          Đặc điểm : Kinh ra nhiều, mầu đỏ nhạt hoặc lợn cợn, tinh thần uể oải, hơi thở ngắn, nói xàm, bụng dưới xệ xuống, sắc mặt trắng, lưỡi nhạt, rêu lưỡi nhạt, mạch Hoãn Nhược.
     Điều trị: Bổ khí, thăng đề, cố Xung (mạch), chỉ huyết.
d) Đàm trở: đờm ngăn trở ở Huyết hải khiến cho huyết bị đẩy xuống. Sách ‘Đan Khê Tâm Pháp’ viết: “Đàm nhiều, chiếm mất vị trí của Huyết hải cho nên huyết xuống nhiều”.
Đặc điểm: Kinh ra nhiều, ngực sườn đầy tức. Rêu lưỡi đục, trơn, mạch hoạt.            
Điều trị : Đàm nhiều nên khử đàm, hóa thấp.

2. Chữa bằng Diện chẩn

       Trong Diện chẩn GSTS Bùi Quốc Châu đã dạy : Trong chữa trị phải tùy, biến. Người xưa cũng dạy rằng : ‘ Dĩ bất biến, ứng vạn biến ‘. Vì vậy chúng ta phải vận dụng hết sức linh hoạt. Tất cả các phác đồ trong các sách không phải là bất biến.

     ( Dưới đây chỉ phân tích các huyệt liên quan đến khí, huyết và đàm. Các tác dụng khác của huyệt coi  bạn đọc đã biết)
   a) Chứng huyết nhiệt : dùng bộ giáng gia giảm 124,34,26,61,16, 3- ,0.
       Trong đó : 16, 61 cầm máu toàn thân, làm giảm tiết dịch mạnh.
3-     làm mát phế, mát da lông.
0 Bổ thận thủy- bổ thủy để chế hỏa, cầm máu.
124, 34, 26 an thần, điều hòa thần kinh.
  b) Huyết ứ : Dùng 16,61,50,7,37.
     Trong đó  7 hành khí, hành huyết(  khí hành thì huyết hành)
  37 thông khí huyết, chữa xuất huyết rong kinh( 37 huyệt thuộc tạng Tỳ - Tỳ nhiếp huyết)
         50 thuộc tạng Can- can tàng huyết, tác dụng chữa rong kinh, băng huyết.
         Dùng ngải cứu hơ huyệt khí hải.
   c) Khí hư : dùng bộ thăng gia giảm 22, 127,7,1,50,37,103 thêm 16,61.
   d) Đàm trở  : dùng bộ huyệt 127,7, 37,16,61.
        Trong đó :
127   - Ôn trung, bổ trung ích khí, chữa đau bụng, lạnh bụng, đau bụng kinh, hành khí, tăng lực mạnh, liên hệ đáy tử cung, gót chân.
 37-  ngoài tính chất như đã nêu trên còn có tác dụng làm giảm đàm nhớt.
    
        Ngoài ra trong điều trị, tùy từng lúc mà gia bộ huyệt Bổ âm huyết.

3.Thực tiễn điều trị

          Dưới đây tôi nêu 2 bệnh án mà tôi đã điều trị bằng Diện chẩn.
     a) Chị Minh 41 tuổi ở xã Minh Khai, Từ Liêm, Hà Nội.
     Bệnh sử : Bệnh nhân cho biết rong kinh đã 3 tháng. Đã uống thuốc Tây, thuốc Đông Y nhưng không đỡ. Có lúc kinh nguyệt ào ra nhiều, rất lo sợ .
     Khám : Người xanh mét, mệt mỏi,  mất ngủ.
                Mạch hoãn, nhược, tế.
    Định bệnh : Khí huyết lưỡng hư.
    Cách chữa :
-          Day ấn bộ Thăng gia giảm, thêm 16, 61 để cầm máu.
-          Day ấn bộ huyệt Bổ âm huyết.
-          Day ấn bộ huyệt An thần.
 Chữa 3 ngày đầu, mỗi ngày 2 lần huyết không ra nữa, tinh thần phấn khởi.
4 ngày sau, mỗi ngày chữa 1 lần xoay quanh mấy bộ huyệt trên, người khỏe mạnh dần. Bệnh nhân rất phấn khởi, tin tưởng và nghỉ chữa. Lúc này tôi mới thở phào nhẹ nhõm.
     b) Chị Tuyết 43 tuổi, xã Phú Diễn, Từ Liêm, Hà nội.
      Bệnh sử: Mồng 5 Tết năm 2010, gia đình mời đến xem bệnh.
      Bệnh nhân nói: Đã nhiều ngày nay, bụng dưới đau quặn từng cơn, huyết ra thành hòn cục. Gia đình lo sợ, đi mua thuốc tây về để tiêm cho cầm máu, nhưng chưa tiêm.
     Khám bệnh: sau khi thăm khám xong, tôi cho rong kinh này là do huyết ứ gây ra .  Máu đã ly kinh rồi không thể vít lấp. Cứ cố vít lấp, cố cầm máu thì chẳng bao giờ  khỏi được. Phải cho thông huyết, hành ứ ngay thì mới mong khỏi bệnh.
    Nghĩ vậy tôi dùng:
-          Lấy ngải cứu hơ huyệt Khí hải.
-          Day ấn huyệt 37, 7, 50.
-          Day ấn bộ huyệt Bổ âm huyết.
    Chữa 2 lần cách khoảng, bệnh nhân thấy  đỡ, dễ chịu. Sau hướng dẫn gia đình hơ ngải cứu huyệt Khí hải, Quan nguyên, Túc tam lý, 3 ngày sau bệnh khỏi.

 4. Kết luận:  Trên đây chỉ là những phân tích của tôi  đã tạo thành thói quen khi chữa bất cứ bệnh gì. Muốn TÙY VÀ BIẾN được, đầu tiên phải nắm được bệnh học và biện chứng luận trị. Kinh nghiệm Diện chẩn của tôi còn ít, chỉ mong luận bàn để chúng ta cùng nhau  nâng cao năng lực chữa bệnh nhằm ứng dụng môn Diện chẩn ngày càng tốt hơn. Nếu có gì sai sót, xin bạn đọc chỉ giáo.
                                                          Hà nội 04 tháng 3 năm 2010
 


Thứ Tư, 2 tháng 3, 2011

Y án

          Cụ Định Ninh Lê Đức Thiếp là một danh y. Cụ quê gốc ở Nam Định, sau sống ở Sài Gòn. Sau năm 1975 Cụ là Chủ tịch Ban chấp hành Hội Y Dược Học Dân Tộc Thành Phố Hồ Chí Minh. Cụ viết nhiều sách về Y Hoc Cổ Truyền. Cuốn "Cuộc đời và kinh nghiệm người thợ già chữa bệnh "  là một trong số các sách của Cụ. Đọc cuốn sách này (sách được viết  khi Cụ đã trên 85 tuổi đời và hơn 65 tuổi nghề) chúng ta sẽ biết được rất nhiều điều thú vị qua bút pháp độc đáo của Cụ , thấy được xã hội Việt Nam từ đầu những năm của thế kỷ 20, đặc biệt là sinh hoạt của các thầy thuốc Y học cổ truyền; Chúng ta cũng biết được nhiều mẩu chuyện tâm đắc trong cuộc đời chữa bệnh của Cụ, khám phá một sở học uyên thâm, một lao động sáng tạo, độc đáo  trải qua bao gian khổ nhưng  đầy hào sảng vui cười….
         Sau đây xin giới thiệu  một  chuyện trong cuốn sách đó để chúng ta đọc và suy ngẫm về rừng Y.
        
              " Có câu dùng thuốc tựa dùng binh,
                  Quan trọng vô cùng việc tử sinh."
                      
                             Âm kiệt biến thành dương

        Sách y ngày xưa ghi: "Nhiệt ngộ nhiệt tắc cuồng, hàn ngộ hàn tắc tử' (nhiệt bệnh mà gặp thuốc nhiệt sẽ phát cuồng, hàn chứng mà gặp thuốc hàn sẽ chết), để lưu ý các thầy thuốc trong việc chẩn đoán và điều trị, phải hết sức cẩn thận để tránh lầm lẫn gây biến chứng tai hại. Thế nhưng cũng có nhiều trường hợp nhiệt ngộ nhiệt mà tắc tử, lại chết ngay khi thuốc vừa qua khỏi cổ (hạ hầu tức tử ) như bệnh án dưới đây.
Cụ già 70 tuổi, vẫn ăn uống điều hòa, đi lại nhanh nhẹn, khỏe mạnh bình thường, không có bệnh gì gọi là cố tật. Một hôm, cụ kêu nóng nẩy trong người, bứt rứt khó chịu rồi vài hôm sau nóng, không ói mửa, không khát nước, không nóng lạnh từng cơn như ngoại cảm thương hàn, không nhức đầu, đau mình, đại tiểu tiện vẫn bình thường. Cụ chỉ kêu mệt, nằm dài lăn lộn từng cơn, tự cầm quạt luôn tay phe phẩy, con cháu cũng hai quạt ngồi hầu. Cụ lang Sách cho uống chỉ một mình Dã Sơn Sâm đã 6 ngày nay, không bớt. Khi tôi tới xem mạch (có thầy lang Sách ở đấy), thấy cả hai tay cùng Trầm, Vi, Tế, Tiểu, lúc đến thì nhanh, lúc về thì chậm. Tôi nói với cụ lang Sách đây là trường hợp ‘mạch bất hợp chứng’ (mạch hàn mà bệnh nhiệt), ‘ mạch bất hợp lực’ (mạch yếu mà người mạnh). Cụ Sách nhận định là tôi nói đúng. Cụ hỏi ý kiến tôi về việc cho thuốc uống. Tôi chưa kịp nói, bà cụ già nói ngay: “Thưa thầy và cụ lang, ý kiến tôi muốn dùng thang thuốc do cụ cắt hôm qua và đã sắc rồi, bao nhiêu Sâm cứ để cho cụ ông tôi uống thử xem sao? Tôi đáp: Dạ, việc đó là quyền nơi cụ và cụ lang, nhưng xin cụ lang có thể cho biết thuốc hôm qua đã cắt những gì ? Cụ Sách bảo: 'Tôi cắt bài Lý Trung Thang đấy thầy ạ (Nhân sâm 20g, Bạch truật 12g, Sinh khương 4g, Chích thảo 1g, Phụ tử 4g), thêm Ngũ vị tử 2g. Cụ giải thích: "Sâm làm quân dược, còn mấy vị tá sứ kia mỗi thứ chút ít mà. Mạch nhỏ là nội hàn mà nóng ngoài là dương phù việt. Ta cho uống như thế là bổ dương để ôn hàn mà liễm dương lại, ý kiến thầy thế nào. Ngay lúc đó, người nhà đã bưng chén thuốc lên. Ông cụ già ngồi dậy, tay phe phẩy quạt, thấy chén thuốc, cụ vơ lấy uống luôn. Cụ vừa nuốt xuống khỏi cổ, ngắc ngắc vài tiếng. Người nhà vội đỡ cụ, cụ chết ngay đang khi đỡ cụ. Thế là hai thầy thuốc trâng hẩng nhìn nhau như muốn hỏi nhau mà chưa ai trả lời. Tôi suy nghĩ : Tại sao bệnh này, uống bài Lý Trung Thang vào khỏi cổ mà chết ngay? Vậy thì tại bệnh đến giờ chết hay tại thuốc? Tôi dám quả quyết rằng tại thuốc. Vì âm đến độ suy cực thì biến thành khô ráo (dương). Dương đó hợp với dương bên ngoài là dương thịnh cực, vì vậy phát nóng, phát phiền, bắt quạt. Vậy bệnh này là ‘dương thịnh cực mà âm khô kiệt’. Chính ra phải cho uống thuốc dưỡng âm thì còn may ra kéo dài ngày sống. Nếu lầm tưởng mạch Trầm, Vi, Tế, Tiểu này là dương suy rồi đem nhiệt dược để bổ dương thì nhiệt ngộ nhiệt, chết ngay. Đó là chết tại thuốc. Nên biết rằng mạch Trầm, Vi, Tế, Tiểu và tay chân mát thì mới uống Lý Trung Thang. Bệnh này, mạch Trầm, Vi, Tế, Tiểu nhưng mình nóng ấm, bắt quạt, mà lại cho uống Lý Trung Thang là nhiệt dược, tức nhiệt ngộ nhiệt mà chết ngay.

Thứ Ba, 1 tháng 3, 2011

Thuốc từ cây mít

Thuốc từ cây mít

Lá mít, nhựa mít được dân gian dùng làm thuốc chữa mụn nhọt, lở loét. Ngoài ra, các bộ phận khác của cây này cũng được dùng làm thuốc an thần, chữa sỏi thận...
Một số bài thuốc theo kinh nghiệm dân gian:
- Vỏ thân mít 20g, chẻ nhỏ, phơi khô, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống một lần trong ngày có tác dụng an thần, gây ngủ. Phụ nữ có thai không được dùng vì dễ bị sẩy thai.
- Nhựa trích từ thân cây mít, dùng ngay trộn với ít giấm, bôi hằng ngày chữa mụn nhọt, sưng tấy.
- Lá mít già 20-30g (lá mít mật tốt hơn) thái nhỏ, sao vàng, nấu nước uống, chữa đái ra cặn trắng ở trẻ em.
Dùng ngoài, lá mít tươi giã đắp mụn nhọt, làm giảm sưng đau; hoặc lá phơi khô, nấu thành cao mềm bôi chữa lở loét.
- Cụm hoa đực (dái mít) hoặc quả mít non 30-50g sắc uống giúp làm tăng tiết sữa. Có thể dùng riêng hoặc phối hợp với chân giò lợn 1 cái hoặc móng chân lợn 3-5 cái; lá sung có tật 100g, quả đu đủ non 50g, lõi thông thảo 10g, hạt mùi 5g, để sống, gạo nếp 100g. Tất cả thái nhỏ, nấu thật nhừ thành cháo ăn làm 1-2 lần trong ngày. Dùng 2-3 ngày.
- Múi mít được coi như một loại thức ăn - vị thuốc có tính bồi dưỡng và long đờm. Có thể chế siro mít bằng cách nấu múi mít chín (mít mật càng tốt) với nước với tỷ lệ 1 mít và 1/2 nước, đánh thật nhuyễn, lọc để được dịch quả, rồi trộn với đường để nấu thành siro với tỷ lệ 1/2. Khi dùng, pha loãng siro mít với nước sôi để nguội sẽ được một thứ nước giải khát thơm ngon, chống khô cổ, háo khát.
- Theo kinh nghiệm dân gian, hạt mít có tác dụng thông tiểu, gây trung tiện làm cho dễ tiêu.
-Tầm gửi sống bám ở cây mít cũng được dùng với tác dụng lợi sữa dưới dạng thuốc sắc. Dùng riêng hoặc phối hợp với cỏ sữa lá nhỏ.
Gần đây, các nhà khoa học Pháp đã chiết được từ quả mít chất jacalin, bước đầu được thử nghiệm trong phòng thí nghiệm thấy có khả năng bảo vệ các bạch huyết bào (tế bào của hệ thống miễn dịch) chống lại bệnh AIDS.
Theo Sức khỏe & Đời sống

Chữa viêm xoang

Cây cứt lợn điều trị viêm xoang


Cây hoa cứt lợn, tên khoa học Ageratum conyzoides L. Trong dân gian thường gọi cây cứt lợn, cây cỏ hôi. Cây cứt lợn cao chừng 25 - 100cm, lá mọc đối xứng, hình tim, phía trên của lá màu xanh đậm, phía dưới màu nhạt hơn, lá có lông, sờ nhám, vò nát lá có mùi thơm dễ chịu (dầu sánh màu vàng). Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, trong cây cứt lợn có nhiều tinh dầu đặc 0,16%, hoa có tinh dầu 0,2%, trong tinh dầu hoa và lá đều có Cadinen, Caryophyllen, Geratocromen, Demetoxygeratocromen và một số thành phần khác. Gần đây, đã có tác giả tìm thấy tinh dầu từ 0,7 - 2%.
Không phải cho đến hôm nay; từ năm 1965, các bệnh viện dân y Tỉnh Phú Thọ đã nghiên cứu dùng cây cứt lợn chữa viêm xoang cho bệnh nhân đạt kết quả tốt. Và mới đây, BS Lê H., cả hai anh chị đều bị viêm đa xoang, tự chữa với cây cứt lợn có thêm lá chanh và ít bột long não bằng hai phương pháp: nấu nước cô đặc xông chấm nước sau khi giã nát cho vào 2 mũi. Qua một số bệnh nhân ở KV5, Phường Quang Trung làm theo chỉ dẫn của BS Lê H. thấy bệnh có giảm và không phải điều trị các thuốc kháng viêm tân dược.
Qua nghiên cứu kỹ các tài liệu có nói: cây cứt lợn có 3 tác dụng chính tốt:
- Chống viêm
- Chống phù nề
- Chống dị ứng.
Ba cơ chế tác dụng này hoàn toàn đúng với cơ chế gây viêm xoang hoặc đa xoang do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân của dị ứng là cơ bản.. Khi các hố xoang đã viêm, tất nhiên, sẽ phù nề gây cản trở đường hô hấp trên như ngạt mũi, ứ đọng tiết dịch và rồi gây phản ứng cục bộ, sốt, đau đầu..., nay nhắc lại cũng không thừa vì bà con ta hiện ở nhiều nơi không có phương tiện đến với chuyên khoa hay thuốc đặc trị. Trong trường hợp này, một số "cây nhà lá vườn" như cỏ cứt lợn cũng có thể trị được viêm xoang.
(Theo Báo SK&ĐS)

Đậu phụ-món ăn, bài thuốc



MÓN ĂN TỪ ĐÂU PHỤ CHỮA BỆNH TRẺ EM
Tác giả : BS. HOÀNG XUÂN ĐẠI

  Trẻ em thường dễ nhiễm bệnh hơn người lớn, vì vậy các chứng bệnh cũng thật là đa dạng do đó chỉ xin giới thiệu những món ăn thuốc đã ứng dụng chữa trị một số bệnh có kết quả.

1.Canh đậu phụ cá diếc
Tác dụng: Thanh nhiệt, giải độc, kiện tỳ, bổ sung canxi. Dùng cho trẻ em còi xương, thiếu canxi, tiêu hóa kém.

Nguyên liệu: Cá diếc 500g, đậu phụ 250g, măng mùa đông thái lát 50g, mộc nhĩ ngâm nước 50g, rượu, gia vị, hành cọng, gừng tươi thái lát, trứng tôm, muối tinh, mỡ lợn nước đủ dùng.

Chế biến: Đậu phụ xắt miếng vuông 2cm2, nhúng nước sôi 1 lát vớt ra, để ráo hết nước. Cá đánh vảy, móc bỏ mang, ruột, rửa sạch, khứa hoa trên mình. Đổ ít mỡ vào chảo đun nóng 70%, bỏ gừng, hành phi thơm, đổ 1 lít nước đun sôi, cho cá vào cùng rượu, gia vị, trứng tôm, đậy nắp, nổi lửa to 10 phút, cho tiếp đậu phụ, măng, mộc nhĩ , muối và đun tiếp 5 phút, dùng ăn với cơm.

2.Canh đậu phụ cá trắm cỏ
Dùng chữa các bệnh phát triển không tốt ở trẻ, nhờ tác dụng bổ trung, lợi tiểu, trừ gió. Trong món ăn chứa muối vô cơ như canxi, magie, nên tác dụng với sự sinh trưởng, phát triển cơ và xương của trẻ.

Nguyên liệu: Cá trắm cỏ 1 con khoảng 500g, đậu phụ 250g, lá tỏi 10g, dưa cải muối 10g, rượu, gia vị, xì dầu, đường trắng, mỡ lợn, canh gà.

Chế biến: Đánh vảy cá, bỏ mang, ruột, rửa sạch, cắt thành 3 khúc, dưa cải rửa sạch cắt ngắn, đậu phụ cắt miếng vuông 1cm2, lá tỏi rửa sạch cắt khúc. Cho mỡ vào nồi đun nóng, bỏ cá, dưa cải, rượu, gia vị, xì dầu, đường trắng, canh gà, rồi đun cá chín thì cho đậu phụ vào đợi canh sôi hạ lửa, chờ khi đậu nổi lên cho lá tỏi, mỡ và ăn cùng cơm.

3.Đậu phụ chấm bột cành vừng
          Dùng chữa bệnh trẻ em khò khè khó thở. Món ăn tác dụng thanh nhiệt, sinh nước bọt, chống khô, hóa ẩm, tiêu đờm.

Nguyên liệu: Đậu phụ, cành vừng vừa đủ dùng.

Chế biến: Băm vụn cành vừng, sao khô bằng nồi đất, sau nghiền nát, không cho gia vị mà khi ăn chấm đậu phụ với bột này, ngày ăn 2 lần.

4.Canh dưa chuột đậu phụ
Chữa trẻ em bị nóng không thuyên giảm vào mùa hè, miệng khát, uống nước nhiều, tiểu tiện lắm. Là phương tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sinh nước bọt, chống khô.

Nguyên liệu: Dưa chuột 250g, đậu phụ 500g.

Chế biến: Thái lát dưa chuột và đậu phụ, cho vào nồi đổ nước đun 15 phút là được, ngày ăn 2 lần.

5.Đậu phụ chưng đường phèn
Dùng cho trẻ bị phong hàn gây ra ho. Tác dụng làm tiêu đờm, trị khó thở ở trẻ nhỏ.

Nguyên liệu: Đậu phụ, đường phèn, lá hành bỏ bẹ, đủ dùng.

Chế biến: Đậu phụ thái miếng, bỏ đường phèn vào trong lá hành, cho tất cả vào bát, hấp trong nồi khi đường phèn hóa lỏng, hành chay nước là được. Cho trẻ ăn và uống canh lúc còn nóng. Ngày uống 2 lần vào sáng và tối. Lúc ho co giật có thể cho thêm 3-6g bối mẫu Tứ Xuyên. Trẻ em từ 2 tuần tuổi trở xuống mỗi lần dùng 3-5 lá hành. Hai tuần tuổi trở lên mỗi lần 5-8 lá hành.

6.Đậu phụ nấu tôm khô
Dùng cho trẻ em bị còi xương, mọc răng và chậm phát triển, chậm biết đi, nhờ tác dụng của phương làm bổ thận, chắc răng, khai vị, tiêu đờm, điều hòa tỳ vị, thanh nhiệt, sinh nước bọt.

Nguyên liệu: Tôm khô 20g, đậu phụ 50g, muối tinh, dầu mè (vừng) vừa đủ dùng.

Chế biến: Rửa sạch tôm khô, đậu phụ nhúng qua nước sôi, vớt ra, thái miếng nhỏ. Cho tôm vào nồi, đổ 50ml nước đun sôi rồi cho đậu vào nấu trong 10 phút, nêm đủ muối, tưới dầu mè (vừng) là xong. Mỗi ngày ăn 1 lần, cần ăn 5-7 ngày liền.

7.Đậu phụ xào đậu cô-ve
Được dùng cho trẻ bụng ỏng, da vàng (cam), tỳ vị hư nhược hoặc sau khi bệnh làm cơ thể suy nhược, nôn mửa, tiêu chảy lâu ngày không khỏi, ho nhiều đờm, mắt đỏ sưng đau, vì phương này tác dụng bổ trung, ích khí, thanh nhiệt hóa ẩm.

Nguyên liệu: Đậu phụ 500g, đậu cô-ve 100g, muối, hành lá thái nhỏ, gừng tươi giã nhỏ, canh cá tinh bột ướt, dầu mè (vừng), dầu thực vật vừa đủ dùng.

Chế biến: Rửa sạch đậu cô-ve, bỏ gân đậu, cắt đôi, nhúng vào nước sôi rồi vớt ra để ráo nước. Đậu phụ thái lát, rán, để lại một ít dầu trong nồi, cho hành, gừng phi thơm, bỏ muối canh vào đun sôi, cho đậu phụ, đậu cô-ve vào đun ngấm muối thì cho tinh bột, tưới dầu vừng và ăn với cơm.

8.Canh đậu phụ rau chân vịt
Dùng cho trẻ bị chứng thiếu máu, ra mồ hôi trộm, lưỡi và họng khô, táo bón. Vì phương này tác dụng bổ trung ích khí, trị khô, thông đại tiểu tiện, hòa vị, cầm máu.

Nguyên liệu: Rau chân vịt 200g, đậu phụ 250g, tôm khô 50g, hành lá thái nhỏ, gừng tươi giã nhỏ, tỏi thái lát, dầu thực vật, canh trong, muối.

Chế biến: Thái lát đậu phụ rồi ngâm nước nóng từ 2-3 phút, vớt ra để ráo nước. Đun nóng chảo cho dầu phi thơm hành, gừng, tỏi, cho canh và tôm khô, muối, đậu phụ vào đun sôi và bỏ rau chân vịt, để rau chân vịt và đậu phụ ngấm gia vị, ăn ngày 2 lần khi còn nóng, cần ăn thường xuyên một thời gian.

9.Canh thịt viên đậu phụ
Dùng cho trẻ em dinh dưỡng không tốt, còi xương, phù thũng do viêm thận, nhờ phương này có tác dụng tẩm bổ nội tạng, giúp sinh trưởng và phát triển, làm trơn ướt cơ, da, thanh nhiệt, lợi tiểu.

Nguyên liệu: Thịt chân giò 150g, đậu phụ mềm 400g, trứng gà 2 quả, hành tây 50g, tỏi 1 nhánh, rượu, gia vị, bột tiêu, mỡ lợn, tinh bột, muối.

Chế biến: Băm nhỏ thịt chân giò, cho hành tây đã xào mỡ và rượu, gia vị, muối, bột tiêu, trứng gà, tinh bột, trộn đều, viên thành viên nhỏ đã rán vàng bằng dầu. Đặt chảo lên bếp phi tỏi, cho đậu phụ đã thái miếng vào, đổ nước đun sôi, cho thịt viên vào 3 phút nữa, bắc ra ăn cùng cơm.
 

Tổng số lượt xem trang