Uống cốc nước đầu tiên trong ngày như thế nào?
|
Nhiều người biết, sau khi thức dậy vào lúc
sáng sớm, bụng đang rỗng uống ngay một cốc nước sẽ có lợi cho sức khỏe.
|
Thế nhưng, cốc nước cần phải uống
đó là nước gì mới chính xác? Nước đun sôi để nguội, nước muối nhạt, hoặc nước
mật ong, nước chanh, nước quả, sữa v.v... Chọn những thứ đó đã đúng chưa? Cần
làm cho rõ, nếu không bạn sẽ phạm sai lầm, thậm chí còn đáng tiếc nữa. Xin
phân tích đôi điều để bạn có thể lựa chọn.
Nước đun sôi để nguội: Buổi sớm
dậy, uống cốc nước có độ ấm như nhiệt độ trong phòng bạn ngủ là tốt nhất.
Điều đó sẽ làm giảm thiểu tối đa sự kích thích đối với dạ dày và ruột. Nghiên
cứu phát hiện, nước đun sôi để nguội trong khoảng 20~25 oC là sự lựa chọn tốt
nhất. Bởi hoạt tính sinh vật trong đó sẽ thẩm thấu qua màng tế bào mà kích
thích sự bài tiết, làm tăng thêm khả năng miễn dịch cho cơ thể.
Nguyên tố Can-xi, Ma-giê trong
nước đun sôi để nguội đều rất có ích cho sức khỏe cơ thể bạn. Tuy nhiên, buổi
sáng sớm không nên uống nước lạnh. Điều đó sẽ làm cho dạ dày bị kích thích mà
không có cách nào đến được đường ruột, làm bụng bị chướng khí.
Nước mật ong: Buổi sáng sớm sau
khi tỉnh dậy bạn uống một cốc nước mật ong càng tốt. Bởi con người, sau một
đêm dài ngủ thiếp đi thì phần lớn nước trong cơ thể đã bị bài tiết hoặc bị
hấp thụ. Trong lúc rỗng ruột, uống một cốc nước mật ong, vừa có tác dụng bổ
sung nước cho cơ thể vừa tăng thêm dinh dưỡng cho bạn.
Nước chanh: Nếu bạn quan tâm tới
tri thức làm đẹp hoặc giảm béo mà trên báo chí vẫn thường đề cập thì sẽ phát
hiện chất uế thải cách ngày là hung thủ làm hại thân hình yêu kiều và sắc đẹp
bản thân.
Đúng vậy, uế thải tích tụ dần dần
biến thành độc tố, sẽ hiện ra trên làn da của bạn. Cho nên hằng ngày khi tỉnh
dậy vào buổi sớm, tốt nhất vào trước bữa ăn sáng, bạn hãy uống một cốc nước
ấm mà trong đó có những lát chanh tươi. Chớ coi thường cốc nước thải độc này.
Bởi nó không chỉ là chất tốt nhất làm trung hòa được a-xít trong cơ thể mà
còn có tác dụng loại trừ độc ra khỏi cơ thể bạn. Ngoài đó ra, nếu như khẩu
khí không tốt thì nước chanh sẽ giúp bạn cải thiện tình trạng đó một cách
tuyệt vời.
Nước muối nhạt: Không ít người cho
rằng buổi sớm dậy, uống nước muối nhạt có lợi cho sức khỏe. Điều đó thật sai
lầm.
Qua nghiên cứu thấy rằng, trong
suốt một đêm ngủ cơ thể không nhận được một giọt nước, mà còn phải thở hít,
tiết mồ hôi và tiểu tiện. Những hoạt động sinh lí ấy đã tiêu hao rất nhiều
nước trong cơ thể. Buổi sớm sau khi ngủ dậy, uống nước muối nhạt sẽ tăng thêm
sự thoát nước, làm cho miệng càng khô. Và, sáng sớm là thời điểm huyết áp bạn
dâng cao; Uống nước muối nhạt càng khiến cho huyết áp tăng thêm.
Nước quả: Có người cho rằng, mỗi
buổi sáng sớm tỉnh dậy uống một cốc nước quả tươi, vừa có tác dụng giải khát,
lại có thêm dinh dưỡng đưa vào cơ thể.
Như vậy là sai. Uống nước quả vào
lúc này không phải là lúc bổ sung cho cơ thể lượng nước cần thiết. Bạn đang
bị thiếu nước lại bắt dạ dày và ruột phải làm việc ngay. Điều đó không có lợi
cho sức khỏe. Nếu uống nước có ga đóng hộp thì càng sai lầm hơn, bởi những
thức uống đó sẽ làm tăng tốc bài tiết can-xi ra khỏi cơ thể bạn.
Sữa bò: Buổi sáng sớm có thể uống
cốc sữa bò. Điều đó không sai, nhưng để thay cho cốc nước đầu tiên trong một
ngày mới là sai lầm đấy. Bụng bạn đang rỗng, uống sữa bò vào thì dạ dày chưa
kịp tiêu hóa đã chạy qua ruột, tiểu tràng chưa kịp hấp thu, khi ấy giá trị
dinh dưỡng của sữa bò liền bị mất. Sữa bò tốt thật, nhưng uống như thế không
đúng lúc.
Những điều cần lưu ý khi uống cốc
nước đầu tiên trong một ngày mới: Uống vào lúc bụng rỗng, trước bữa ăn sáng.
Uống từ từ, từng ngụm một. Uống tốc độ nhanh không có lợi cho sức khỏe, mà có
thể dẫn tới hạ huyết áp, làm ứ nước ở não, dẫn đến nhức đầu, buồn nôn, ói
mửa. Uống với liều lượng vừa phải. Cốc nước đầu tiên mà bạn sẽ uống tốt nhất
là vào khoảng 300 ml.
Nguyễn Hiền Nhân
|
ĂN UỐNG VÀ SỨC KHỎE
PHONG BENH HON CHUA BENH
TRI THUC LA SUC MANH
TRI THUC LA SUC MANH
Thứ Tư, 31 tháng 10, 2012
Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2012
Lá Thư từ bên kia Thế Giới
Bác sĩ Alizabeth Kubler Ross, người tiền phong trong lãnh vực nghiên cứu về hiện tượng hồi sinh cho biết: "Con người sợ chết như con nít sợ ma, họ đã nhìn cái chết một cách sợ hãi, ghê tởm và cố gắng phủ nhận nó vì nó làm gián đoạn sự liên tục của đời sống. Nhưng nếu họ biết chấp nhận sự chết một cách bình thản, giản dị thì họ sẽ thấy chết là một sự kiện tự nhiên cũng như lúc sinh ra vậy. Bất kỳ lúc nào chung quanh chúng ta, sống và chết cũng luôn luôn tiếp diễn. Lá cây rụng để nhường chỗ cho những mầm non xuất hiện, hết mùa đông lại có mùa xuân. Một hiện tượng tự nhiên và cần thiết như thế không lẽ lại chẳng bao hàm một ý nghĩa thâm sâu nào đó? Phải chăng chính vì có sự chết mà sự sống hiện hữu, có sự xây dựng thì cũng phải có sự hủy diệt, đâu có gì tồn tại vĩnh viễn. Người ta không thể hiểu được ý nghĩa đích thực của sự sống nếu họ không chịu chấp nhận sự chết, và đã đến lúc người ta phải nghiên cứu cặn kẽ các sự kiện này chứ không thể chấp nhận những lý thuyết mơ hồ nào đó được".
Sau đây là tài liệu được trích lại từ cuốn La revue spirite:
Bác sĩ Henri Desrives là một khoa học gia hoạt động, vui vẻ và yêu nghề. Như mọi nhà trí thức khác, ông sống một cuộc đời rất thực tế và không buồn lưu ý đến những điều mà khoa học chưa giải thích được. Ông không tin rằng có một linh hồn tồn tại sau khi chết vì thể xác chỉ là sự kết hợp của các vật chất hữu cơ và trí thông minh chẳng qua chỉ là sản phẩm của các tế bào thần kinh. Khi thể xác đã hư hoại thì trí thông minh cũng không thể tồn tại. Một hôm khi bàn chuyện với các con về đề tài đời sống sau khi chết, ông hứa sẽ liên lạc với các con nếu quả thật có một đời sống bên kia cửa tử. Cậu con trai Piere Desrives, cũng là một y sĩ, đã nói: "Nếu đã chết, làm sao cha có thể liên lạc với con được?" Bác sĩ Henri suy nghĩ một lúc rồi trả lời: "Cha không tin có một đời sống hay cõi giới nào ngoài đời sống này nhưng nếu sau khi chết mà cha thấy được điều gì thì cha sẽ tìm đủ mọi cách để liên lạc với các con". Vài năm sau, bác sĩ Desrives từ trần, các con ông vì bận việc nên cũng không để ý gì đến buổi bàn luận đó nữa.
Khoảng hai năm sau, một nhóm nhân viên làm việc trong bệnh viện lập bàn cầu cơ chơi, bất ngờ cơ bút đã viết: "Xin cho gọi bác sĩ Piere Desrives đến vì tôi là cha cậu đó và tôi có mấy lời muốn nhắn nhủ với các con tôi". Được thông báo, bác sĩ Piere không tin tưởng mấy nhưng nhớ lại lời dặn của cha, ông bèn gọi các em đến tham dự buổi cơ bút này. Một người cầm giữ đầu một sợi dây, đầu kia cột vào một cây bút chì và chỉ một lát sau cây bút đã tự động chạy trên các trang giấy thành một bức thư như sau:
Các con thân mến,
Cha rất hài lòng đã gặp đủ mặt các con nơi đây. Gần một năm nay, cha có ý trông đợi để kể cho các con về những điều ở cõi bên này mà cha đã chứng kiến nhưng không có cơ hội.
Như các con đã biết, hôm đó sau khi ở bệnh viện về, cha thấy trong người mệt mõi lạ thường, cha bèn lên giường nằm và dần dần lịm đi luôn, không hay biết gì nữa. Một lúc sau cha thấy mình đang lơ lửng trong một bầu ánh sáng trong suốt như thủy tinh. Thật khó có thể tả rõ cảm tưởng của cha khi đó, nhưng không hiểu sao cha thấy trong mình dễ chịu, linh hoạt, thoải mái chứ không bị gò bó, ràng buộc như trước. Các con biết cha bị phong thấp nên đi đứng khó khăn, vậy mà lúc đó cha thấy mình có thể đi đứng, bay nhảy như hồi trai tráng. Cha có thể giơ tay giơ chân một cách thoải mái, không đau đớn gì. Đang vẫy vùng trong biển ánh sáng đó thì bất chợt cha nhìn thấy cái thân thể của cha đang nằm bất động trên giường. Cha thấy rõ mẹ và các con đang quây quần chung quanh đó và phía trên thân thể của cha có một hình thể lờ mờ trông như một lùm mây màu xám đang lơ lửng. Cả gia đình đều đang xúc động và không hiểu sao cha cứ thấy trong mình buồn bực, khó chịu. Cha lên tiếng gọi nhưng không ai trả lời, cha bước đến nắm lấy tay mẹ con nhưng mẹ con không hề hay biết và tự nhiên cha ý thức rằng mình đã chết. Cha bị xúc động mạnh, nhưng may thay lúc đó mẹ con và các con đều lên tiếng cầu nguyện, tự nhiên cha thấy mình bình tĩnh hẳn lại như được an ủi. Cái cảm giác được đắm chìm trong những lời cầu nguyện này thật vô cùng thoải mái dễ chịu không thể tả xiết. Lớp ánh sáng bao quanh cha tự nhiên trở nên sáng chói và cả một cuộc đời của cha từ lúc thơ ấu đến khi trưởng thành bỗng hiện ra rõ rệt như trên màn ảnh. Từ việc gần đến việc xa, ngay cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất cũng đều hiện ra rõ rệt trong tâm trí của cha. Hơn bao giờ hết, cha ý thức tường tận các hành vi của mình, các điều tốt lành, hữu ích mà cha đã làm cũng như các điều xấu xa, vô ích mà cha không tránh được. Tự nhiên cha thấy sung sướng về những điều thiện đã làm và hối tiếc về những điều mà đáng lẽ ra cha không nên làm. Cả một cuốn phim đời hiện ra một cách rõ rệt cho đến khi cha thấy mệt mỏi và thiếp đi như người buồn ngủ.
Cha ở trong tình trạng vật vờ, nửa ngủ nửa thức này một lúc khá lâu cho đến khi tỉnh dậy thì thấy mình vẫn lơ lửng trong một bầu ánh sáng có màu sắc rất lạ không giống như màu ánh sáng lần trước. Cha thấy mình có thể di chuyển một cách nhanh chóng, có lẽ vì không còn xác thân nữa. Cha thấy cũng có những người đang di chuyển gần đó nhưng mỗi lần muốn đến gần họ thì cha lại có cảm giác khó chịu làm sao. Một lúc sau cha đi đến một nơi có đông người tụ họp. Những người này có rung động dễ chịu nên cha có thể bước lại hỏi thăm họ một cách dễ dàng. Một người cho biết tùy theo các rung động thích hợp mà cha có thể tiếp xúc được với những người ở cõi bên này. Sở dĩ cha không thể tiếp xúc với một số người vì họ có sự rung động khác với "tần số rung động" (frequency) của cha. Sự giải thích có tính cách khoa học này làm cha tạm hài lòng. Người nọ cho biết thêm rằng ở cõi bên này tần số rung động rất quan trọng, và tùy theo nó mà người ta sẽ lựa chọn nơi chốn mà họ sống. Cũng như loài cá ở ngoài biển, có loài sống gần mặt nước, có loài sống ở lưng chừng và có loài sống dưới đáy sâu tùy theo sức ép của nước thì ở cõi bên này, tùy theo tần số rung động mà người ta có thể tìm đến được các cảnh giới khác nhau. Sự kiện này làm cha cảm thấy vô cùng thích thú vì như vậy quả có một cõi giới bên kia cửa tử và cõi này lại có nhiều cảnh giới khác nhau nữa.
Khi xưa cha không tin những quan niệm như thiên đàng hay địa ngục nhưng hiện nay cha thấy quan niệm này có thể được giải thích một cách khoa học qua việc các tần số rung động. Những tần số rung động này như thế nào? Tại sao cha lại có những tần số rung động hợp với một số người? Người nọ giải thích rằng tùy theo tình cảm của con người mà họ có những sự rung động khác nhau; người có tình thương cao cả khác với những người tính tình nhỏ mọn, ích kỷ hay những người hung ác, không hề biết thương yêu. Đây là một điều lạ lùng mà trước nay cha không hề nghĩ đến. Cha bèn đặc câu hỏi về khả năng trí thức, phải chăng những khoa học gia như cha có những tần số rung động đặc biệt nào đó, thì người nọ trả lời rằng, khả năng trí thức hoàn toàn không có một giá trị nào ở cõi bên này cả. Điều này làm cho cha ít nhiều thất vọng. Người nọ cho biết rằng cái kiến thức chuyên môn mà cha tưởng là to tát chẳng qua chỉ là những mảnh vụn của một kho tàng kiến thức rất lớn mà bên này ai cũng có thể học hỏi được.
Người nọ nhấn mạnh rằng, điều quan trọng là con người biết làm gì với những kiến thức đó. Sử dụng nó để phục vụ hay tiêu diệt nhân loại? Sử dụng nó vào mục đích vị tha hay ích kỷ? Sử dụng nó để đem lại niềm vui hay để gây đau khổ cho người khác? Thấy cha có vẻ thất vọng, người này bèn đưa cha đến một thư viện lớn, tại đây có lưu trữ hàng triệu cuốn sách mà cha có thể tham cứu, học hỏi. Chưa bao giờ cha lại xúc động như vậy. Có những cuốn sách rất cổ viết từ những thời đại xưa và có những cuốn sách ghi nhận những điều mà từ trước tới nay cha chưa hề nghe nói đến. Sau một thời gian nghiên cứu, cha thấy cái kiến thức mà mình vẫn hãnh diện thật ra chẳng đáng kể gì so với kho tàng kiến thức nơi đây. Đến khi đó cha mới thấm thía điều người kia nói về khả năng trí thức của con người và bắt đầu ý thức về tần số rung động của mình.
Nơi cha đang sống có rất đông người, đa số vẫn giữ nguyên tính nết cũ như khi còn sống ở thế gian. Có người hiền từ vui vẻ, có người tinh nghịch ưa chọc phá người khác, có người điềm đạm, có kẻ lại nóng nảy. Quang cảnh nơi đây không khác cõi trần bao nhiêu; cũng có những dinh thự đồ sộ, to lớn; có những vườn hoa mỹ lệ với đủ các loại hoa nhiều màu sắc; có những ngọn núi rất cao hay sông hồ rất rộng. Lúc đầu cha ngạc nhiên khi thấy những cảnh vật này dường như luôn luôn thay đổi, nhưng về sau cha mới biết cảnh đó hiện hữu là do sức mạnh tư tưởng của những người sống tại đây. Điều này có thể giải thích giống như sự tưởng tượng ở cõi trần. Các con có thể tưởng tượng ra nhà cửa dinh thự trong đầu óc mình, nhưng ở cõi trần sức mạnh này rất yếu, chỉ hiện lên trong trí óc một lúc mà thôi. Bên này vì có những rung động đặc biệt nào đó phù hợp với sự rung động của tư tưởng làm gia tăng thêm sức mạnh khiến cho những hình ảnh này có thể được thực hiện một cách rõ ràng, chính xác và lâu bền hơn.
Các con đừng nghĩ rằng những người bên này chỉ suốt ngày rong chơi, tạo ra các hình ảnh theo ý muốn của họ; mà thật ra tất cả đều bận rộn theo đuổi các công việc riêng để chuẩn bị cho sự tái sinh. Vì mọi tư tưởng bên này đều tạo ra các hình ảnh nên đây là môi trường rất thích hợp để người ta có thể kiểm soát, ý thức rõ rệt hơn về tư tưởng của mình. Vì đời sống bên này không cần ăn uống, làm lụng nên người ta có nhiều thời giờ theo đuổi những công việc hay sở thích riêng. Có người mở trường dạy học, có kẻ theo đuổi các nghành chuyên môn như hội họa, âm nhạc, kiến trúc, văn chương thơ phú v.v....
Tóm lại, đây là môi trường để họ học hỏi, trau dồi các khả năng để chuẩn bị cho một đời sống mai sau. Phần cha đang học hỏi trong một phòng thí nghiệm khoa học để sau này có thể giúp ích cho nhân loại. Càng học hỏi, cha càng thấy cái kiến thức khi xưa của cha không có gì đáng kể và nền y khoa mà hiện nay các con đang theo đuổi thật ra không lấy gì làm tân tiến lắm nếu không nói rằng rất ấu trĩ so với điều cha được biết nơi đây. Hiển nhiên khoa học phát triển tùy theo khả năng trí thức của con người, mỗi thời đại lại có những sự phát triển hay tiến bộ khác nhau nên những giá trị cũng vì thế mà thay đổi. Có những giá trị mà thời trước là "khuôn vàng thước ngọc" thì đời sau lại bị coi là "cổ hủ, lỗi thời"; và như cha được biết thì những điều mà ngày nay đang được người đời coi trọng, ít lâu nữa cũng sẽ bị đào thải. Tuy nhiên cái tình thương, cái ý tưởng phụng sự mọi người, mọi sinh vật thì bất kỳ thời đại nào cũng không hề thay đổi, và đó mới là căn bản quan trọng mà con người cần phải biết. Càng học hỏi cha càng thấy chỉ có những gì có thể tồn tại được với thời gian mà không thay đổi thì mới đáng được gọi là chân lý. Cha mong các con hãy suy ngẫm về vấn đề này, xem đâu là những giá trị có tính cách trường tồn, bất biến để sống theo đó, thay vì theo đuổi nhũng giá trị chỉ có tính cách tạm bợ, hời hợt.
Cha biết rằng mọi ý nghĩ, tư tưởng, hành động đều có những rung động riêng và được lưu trữ lại trong ta như một cuốn sổ. Dĩ nhiên khi sống ở cõi trần, con người quá bận rộn với sinh kế, những ưu phiền của kiếp nhân sinh, không ý thức gì đến nó nên nó khép kín lại; nhưng khi bước qua cõi bên này thì nó từ từ mở ra như những trang giấy phô bày rõ rệt trước mắt. Nhờ vậy mà cha biết rõ rằng hạnh phúc hay khổ đau cũng đều do chính ta tạo ra và lưu trữ trong mình. Cuốn sổ lưu trữ này là bằng chứng cụ thể của những đời sống đã qua và chính nó kiểm soát tần số rung động của mỗi cá nhân. Tùy theo sự rung động mà mỗi cá nhân thích hợp với những cảnh giới riêng và sẽ sống tại đó khi bước qua cõi giới bên này. Do đó, muốn được thoải mái ở cõi bên này, các con phải biết chuẩn bị. Cha mong các con hãy bắt tay vào việc này ngay. Các con hãy rán làm những việc lành, từ bỏ những hành vi bất thiện. Khi làm bất cứ việc gì, các con hãy suy gẫm xem hậu quả việc đó như thế nào, liệu nó có gây đau khổ hay tổn thương cho ai không? Đừng quá bận rộn suy tính những điều hơn lẽ thiệt mà hãy tập quên mình. Đời người rất ngắn, các con không có nhiều thời giờ đâu.
Khi còn sống, đã có lúc cha dạy các con phải biết đầu tư thương mại để dành tiền bạc vào những trương mục tiết kiệm, những bất động sản, những chứng khoán... nhưng bây giờ cha biết rằng mình đã lầm. Một khi qua đến bên đây, các con không thể mang nhũng thứ đó theo được. Danh vọng, địa vị, tài sản vất chất chỉ là những thứ có tính cách tạm bợ, bèo bọt, đến hay đi như mây trôi, gió thổi, trước có sau không. Chỉ có tình thương mới là hành trang duy nhất mà các con có thể mang theo mình qua cõi giới bên này một cách thoải mái, không sợ hư hao mất mát. Tình thương giống như đá nam châm, nó thu hút những người thương nhau thực sự, để họ tiến lại gần nhau, kế hợp với nhau. Nó là một mãnh lực bất diệt, mạnh mẽ, trường tồn và chính nhờ lòng thương này mà người ta có thể tìm gặp lại nhau trải qua không gian hay thời gian. Chắc hẳn các con nghĩ rằng người cha nghiêm nghị đầy uy quyền khi trước đã trở nên mềm yếu chăng? Này các con, chỉ khi nào buông xuôi tay bước qua thế giới bên này, các con mới thực sự kinh nghiệm được trạng huống của mình, tốt hay xấu, hạnh phúc hay đau khổ, thích hợp với cảnh giới thanh cao tốt lành hay những nơi chốn thấp thỏi xấu xa. Hơn bao giờ hết, cha xác định rằng điều cha học hỏi nơi đây là một định luật khoa học thật đơn giản mà cũng thật huyền diệu. Nó chính là cái nguyên lý trật tự và điều hòa hằng hiện hữu trong vũ trụ. Sự lựa chọn để sống trong cảnh giới mỹ lệ đẹp đẽ hay tăm tối u minh đều do những tần số rung động của mình mà ra cả và chính mình phải chịu trách nhiệm về cuộc đời của mình hay lựa chọn những nơi mà mình sẽ đến.
Khi còn sống cha tin rằng chết là hết, con người chỉ là sự cấu tạo của các chất hữu cơ hợp lại, nhưng hiện nay cha biết mình đã lầm. Cha không biết phân biệt phần xác thân và phần tâm linh. Sự chết chỉ đến với phần thân xác trong khi phần tâm linh vẫn hoạt động không ngừng. Nó đã hoạt động như thế từ thuở nào rồi và sẽ còn tiếp tục mãi mãi. Hiển nhiên các nhân của cha không phải là cái thể xác đã bị hủy hoại kia mà là phần tâm linh vẫn tiếp tục hoạt động này, do đó cha mới cố gắng liên lạc với các con để hoàn tất điều mà cha đã hứa với các con khi xưa. Cha nghiệm được rằng sự sống giống như một giòng nước tuôn chảy không ngừng từ nơi này qua nơi khác, từ hình thức này qua hình thức khác. Khi trôi chảy qua những môi trường khác nhau nó sẽ bị ảnh hưởng những điều kiện khác nhau; và tùy theo sự học hỏi, kinh nghiệm mà nó ý thức được bản chất thiêng liêng thực sực của nó. Cũng như sống biển có đợt cao, đợt thấp thì đời người cũng có những lúc thăng trầm, khi vinh quang tột đỉnh, lúc khốn cùng tủi nhục, nhưng nếu biết nhìn lại toàn vẹn tiến trình của sự sống thì kiếp người có khác chi những làn sóng nhấp nhô, lăng xăng trên mặt biển đâu! Chỉ khi nào biết nhận thức về bản chất thật sự của mình vốn là nước chứ không phải là sóng thì các con sẽ ý thức được tính cách trường cửu của sự sống. Từ đó các con sẽ có một quan niệm rõ rệt rằng chết chỉ là một diễn tiến tất nhiên, một sự kiện cần thiết có tính cách giai đoạn chứ không phải một cái gì ghê gớm như người ta thường sợ hãi. Điều cần thiết không phải là trốn tránh sự chết hay ghê tởm nó, nhưng là sự chuẩn bị cho một sự kiện tất nhiên phải đến một cách thoải mái, ung dung vì nếu khi còn sống các con đã đem hết khả năng và phương tiện của mình để giúp đời, để yêu thương mọi loài thì lúc lâm chung, các con chẳng có gì phải luyến tiếc hay hổ thẹn với lương tâm cả. Trước khi từ biệt các con, cha muốn nói thêm rằng hiện nay cha đang sống một cách thoải mái, vui vẻ và an lạc chứ không hề khổ sở.
Bác sĩ Alizabeth Kubler Ross, người tiền phong trong lãnh vực nghiên cứu về hiện tượng hồi sinh cho biết: "Con người sợ chết như con nít sợ ma, họ đã nhìn cái chết một cách sợ hãi, ghê tởm và cố gắng phủ nhận nó vì nó làm gián đoạn sự liên tục của đời sống. Nhưng nếu họ biết chấp nhận sự chết một cách bình thản, giản dị thì họ sẽ thấy chết là một sự kiện tự nhiên cũng như lúc sinh ra vậy. Bất kỳ lúc nào chung quanh chúng ta, sống và chết cũng luôn luôn tiếp diễn. Lá cây rụng để nhường chỗ cho những mầm non xuất hiện, hết mùa đông lại có mùa xuân. Một hiện tượng tự nhiên và cần thiết như thế không lẽ lại chẳng bao hàm một ý nghĩa thâm sâu nào đó? Phải chăng chính vì có sự chết mà sự sống hiện hữu, có sự xây dựng thì cũng phải có sự hủy diệt, đâu có gì tồn tại vĩnh viễn. Người ta không thể hiểu được ý nghĩa đích thực của sự sống nếu họ không chịu chấp nhận sự chết, và đã đến lúc người ta phải nghiên cứu cặn kẽ các sự kiện này chứ không thể chấp nhận những lý thuyết mơ hồ nào đó được".
Sau đây là tài liệu được trích lại từ cuốn La revue spirite:
Bác sĩ Henri Desrives là một khoa học gia hoạt động, vui vẻ và yêu nghề. Như mọi nhà trí thức khác, ông sống một cuộc đời rất thực tế và không buồn lưu ý đến những điều mà khoa học chưa giải thích được. Ông không tin rằng có một linh hồn tồn tại sau khi chết vì thể xác chỉ là sự kết hợp của các vật chất hữu cơ và trí thông minh chẳng qua chỉ là sản phẩm của các tế bào thần kinh. Khi thể xác đã hư hoại thì trí thông minh cũng không thể tồn tại. Một hôm khi bàn chuyện với các con về đề tài đời sống sau khi chết, ông hứa sẽ liên lạc với các con nếu quả thật có một đời sống bên kia cửa tử. Cậu con trai Piere Desrives, cũng là một y sĩ, đã nói: "Nếu đã chết, làm sao cha có thể liên lạc với con được?" Bác sĩ Henri suy nghĩ một lúc rồi trả lời: "Cha không tin có một đời sống hay cõi giới nào ngoài đời sống này nhưng nếu sau khi chết mà cha thấy được điều gì thì cha sẽ tìm đủ mọi cách để liên lạc với các con". Vài năm sau, bác sĩ Desrives từ trần, các con ông vì bận việc nên cũng không để ý gì đến buổi bàn luận đó nữa.
Khoảng hai năm sau, một nhóm nhân viên làm việc trong bệnh viện lập bàn cầu cơ chơi, bất ngờ cơ bút đã viết: "Xin cho gọi bác sĩ Piere Desrives đến vì tôi là cha cậu đó và tôi có mấy lời muốn nhắn nhủ với các con tôi". Được thông báo, bác sĩ Piere không tin tưởng mấy nhưng nhớ lại lời dặn của cha, ông bèn gọi các em đến tham dự buổi cơ bút này. Một người cầm giữ đầu một sợi dây, đầu kia cột vào một cây bút chì và chỉ một lát sau cây bút đã tự động chạy trên các trang giấy thành một bức thư như sau:
Các con thân mến,
Cha rất hài lòng đã gặp đủ mặt các con nơi đây. Gần một năm nay, cha có ý trông đợi để kể cho các con về những điều ở cõi bên này mà cha đã chứng kiến nhưng không có cơ hội.
Như các con đã biết, hôm đó sau khi ở bệnh viện về, cha thấy trong người mệt mõi lạ thường, cha bèn lên giường nằm và dần dần lịm đi luôn, không hay biết gì nữa. Một lúc sau cha thấy mình đang lơ lửng trong một bầu ánh sáng trong suốt như thủy tinh. Thật khó có thể tả rõ cảm tưởng của cha khi đó, nhưng không hiểu sao cha thấy trong mình dễ chịu, linh hoạt, thoải mái chứ không bị gò bó, ràng buộc như trước. Các con biết cha bị phong thấp nên đi đứng khó khăn, vậy mà lúc đó cha thấy mình có thể đi đứng, bay nhảy như hồi trai tráng. Cha có thể giơ tay giơ chân một cách thoải mái, không đau đớn gì. Đang vẫy vùng trong biển ánh sáng đó thì bất chợt cha nhìn thấy cái thân thể của cha đang nằm bất động trên giường. Cha thấy rõ mẹ và các con đang quây quần chung quanh đó và phía trên thân thể của cha có một hình thể lờ mờ trông như một lùm mây màu xám đang lơ lửng. Cả gia đình đều đang xúc động và không hiểu sao cha cứ thấy trong mình buồn bực, khó chịu. Cha lên tiếng gọi nhưng không ai trả lời, cha bước đến nắm lấy tay mẹ con nhưng mẹ con không hề hay biết và tự nhiên cha ý thức rằng mình đã chết. Cha bị xúc động mạnh, nhưng may thay lúc đó mẹ con và các con đều lên tiếng cầu nguyện, tự nhiên cha thấy mình bình tĩnh hẳn lại như được an ủi. Cái cảm giác được đắm chìm trong những lời cầu nguyện này thật vô cùng thoải mái dễ chịu không thể tả xiết. Lớp ánh sáng bao quanh cha tự nhiên trở nên sáng chói và cả một cuộc đời của cha từ lúc thơ ấu đến khi trưởng thành bỗng hiện ra rõ rệt như trên màn ảnh. Từ việc gần đến việc xa, ngay cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất cũng đều hiện ra rõ rệt trong tâm trí của cha. Hơn bao giờ hết, cha ý thức tường tận các hành vi của mình, các điều tốt lành, hữu ích mà cha đã làm cũng như các điều xấu xa, vô ích mà cha không tránh được. Tự nhiên cha thấy sung sướng về những điều thiện đã làm và hối tiếc về những điều mà đáng lẽ ra cha không nên làm. Cả một cuốn phim đời hiện ra một cách rõ rệt cho đến khi cha thấy mệt mỏi và thiếp đi như người buồn ngủ.
Cha ở trong tình trạng vật vờ, nửa ngủ nửa thức này một lúc khá lâu cho đến khi tỉnh dậy thì thấy mình vẫn lơ lửng trong một bầu ánh sáng có màu sắc rất lạ không giống như màu ánh sáng lần trước. Cha thấy mình có thể di chuyển một cách nhanh chóng, có lẽ vì không còn xác thân nữa. Cha thấy cũng có những người đang di chuyển gần đó nhưng mỗi lần muốn đến gần họ thì cha lại có cảm giác khó chịu làm sao. Một lúc sau cha đi đến một nơi có đông người tụ họp. Những người này có rung động dễ chịu nên cha có thể bước lại hỏi thăm họ một cách dễ dàng. Một người cho biết tùy theo các rung động thích hợp mà cha có thể tiếp xúc được với những người ở cõi bên này. Sở dĩ cha không thể tiếp xúc với một số người vì họ có sự rung động khác với "tần số rung động" (frequency) của cha. Sự giải thích có tính cách khoa học này làm cha tạm hài lòng. Người nọ cho biết thêm rằng ở cõi bên này tần số rung động rất quan trọng, và tùy theo nó mà người ta sẽ lựa chọn nơi chốn mà họ sống. Cũng như loài cá ở ngoài biển, có loài sống gần mặt nước, có loài sống ở lưng chừng và có loài sống dưới đáy sâu tùy theo sức ép của nước thì ở cõi bên này, tùy theo tần số rung động mà người ta có thể tìm đến được các cảnh giới khác nhau. Sự kiện này làm cha cảm thấy vô cùng thích thú vì như vậy quả có một cõi giới bên kia cửa tử và cõi này lại có nhiều cảnh giới khác nhau nữa.
Khi xưa cha không tin những quan niệm như thiên đàng hay địa ngục nhưng hiện nay cha thấy quan niệm này có thể được giải thích một cách khoa học qua việc các tần số rung động. Những tần số rung động này như thế nào? Tại sao cha lại có những tần số rung động hợp với một số người? Người nọ giải thích rằng tùy theo tình cảm của con người mà họ có những sự rung động khác nhau; người có tình thương cao cả khác với những người tính tình nhỏ mọn, ích kỷ hay những người hung ác, không hề biết thương yêu. Đây là một điều lạ lùng mà trước nay cha không hề nghĩ đến. Cha bèn đặc câu hỏi về khả năng trí thức, phải chăng những khoa học gia như cha có những tần số rung động đặc biệt nào đó, thì người nọ trả lời rằng, khả năng trí thức hoàn toàn không có một giá trị nào ở cõi bên này cả. Điều này làm cho cha ít nhiều thất vọng. Người nọ cho biết rằng cái kiến thức chuyên môn mà cha tưởng là to tát chẳng qua chỉ là những mảnh vụn của một kho tàng kiến thức rất lớn mà bên này ai cũng có thể học hỏi được.
Người nọ nhấn mạnh rằng, điều quan trọng là con người biết làm gì với những kiến thức đó. Sử dụng nó để phục vụ hay tiêu diệt nhân loại? Sử dụng nó vào mục đích vị tha hay ích kỷ? Sử dụng nó để đem lại niềm vui hay để gây đau khổ cho người khác? Thấy cha có vẻ thất vọng, người này bèn đưa cha đến một thư viện lớn, tại đây có lưu trữ hàng triệu cuốn sách mà cha có thể tham cứu, học hỏi. Chưa bao giờ cha lại xúc động như vậy. Có những cuốn sách rất cổ viết từ những thời đại xưa và có những cuốn sách ghi nhận những điều mà từ trước tới nay cha chưa hề nghe nói đến. Sau một thời gian nghiên cứu, cha thấy cái kiến thức mà mình vẫn hãnh diện thật ra chẳng đáng kể gì so với kho tàng kiến thức nơi đây. Đến khi đó cha mới thấm thía điều người kia nói về khả năng trí thức của con người và bắt đầu ý thức về tần số rung động của mình.
Nơi cha đang sống có rất đông người, đa số vẫn giữ nguyên tính nết cũ như khi còn sống ở thế gian. Có người hiền từ vui vẻ, có người tinh nghịch ưa chọc phá người khác, có người điềm đạm, có kẻ lại nóng nảy. Quang cảnh nơi đây không khác cõi trần bao nhiêu; cũng có những dinh thự đồ sộ, to lớn; có những vườn hoa mỹ lệ với đủ các loại hoa nhiều màu sắc; có những ngọn núi rất cao hay sông hồ rất rộng. Lúc đầu cha ngạc nhiên khi thấy những cảnh vật này dường như luôn luôn thay đổi, nhưng về sau cha mới biết cảnh đó hiện hữu là do sức mạnh tư tưởng của những người sống tại đây. Điều này có thể giải thích giống như sự tưởng tượng ở cõi trần. Các con có thể tưởng tượng ra nhà cửa dinh thự trong đầu óc mình, nhưng ở cõi trần sức mạnh này rất yếu, chỉ hiện lên trong trí óc một lúc mà thôi. Bên này vì có những rung động đặc biệt nào đó phù hợp với sự rung động của tư tưởng làm gia tăng thêm sức mạnh khiến cho những hình ảnh này có thể được thực hiện một cách rõ ràng, chính xác và lâu bền hơn.
Các con đừng nghĩ rằng những người bên này chỉ suốt ngày rong chơi, tạo ra các hình ảnh theo ý muốn của họ; mà thật ra tất cả đều bận rộn theo đuổi các công việc riêng để chuẩn bị cho sự tái sinh. Vì mọi tư tưởng bên này đều tạo ra các hình ảnh nên đây là môi trường rất thích hợp để người ta có thể kiểm soát, ý thức rõ rệt hơn về tư tưởng của mình. Vì đời sống bên này không cần ăn uống, làm lụng nên người ta có nhiều thời giờ theo đuổi những công việc hay sở thích riêng. Có người mở trường dạy học, có kẻ theo đuổi các nghành chuyên môn như hội họa, âm nhạc, kiến trúc, văn chương thơ phú v.v....
Tóm lại, đây là môi trường để họ học hỏi, trau dồi các khả năng để chuẩn bị cho một đời sống mai sau. Phần cha đang học hỏi trong một phòng thí nghiệm khoa học để sau này có thể giúp ích cho nhân loại. Càng học hỏi, cha càng thấy cái kiến thức khi xưa của cha không có gì đáng kể và nền y khoa mà hiện nay các con đang theo đuổi thật ra không lấy gì làm tân tiến lắm nếu không nói rằng rất ấu trĩ so với điều cha được biết nơi đây. Hiển nhiên khoa học phát triển tùy theo khả năng trí thức của con người, mỗi thời đại lại có những sự phát triển hay tiến bộ khác nhau nên những giá trị cũng vì thế mà thay đổi. Có những giá trị mà thời trước là "khuôn vàng thước ngọc" thì đời sau lại bị coi là "cổ hủ, lỗi thời"; và như cha được biết thì những điều mà ngày nay đang được người đời coi trọng, ít lâu nữa cũng sẽ bị đào thải. Tuy nhiên cái tình thương, cái ý tưởng phụng sự mọi người, mọi sinh vật thì bất kỳ thời đại nào cũng không hề thay đổi, và đó mới là căn bản quan trọng mà con người cần phải biết. Càng học hỏi cha càng thấy chỉ có những gì có thể tồn tại được với thời gian mà không thay đổi thì mới đáng được gọi là chân lý. Cha mong các con hãy suy ngẫm về vấn đề này, xem đâu là những giá trị có tính cách trường tồn, bất biến để sống theo đó, thay vì theo đuổi nhũng giá trị chỉ có tính cách tạm bợ, hời hợt.
Cha biết rằng mọi ý nghĩ, tư tưởng, hành động đều có những rung động riêng và được lưu trữ lại trong ta như một cuốn sổ. Dĩ nhiên khi sống ở cõi trần, con người quá bận rộn với sinh kế, những ưu phiền của kiếp nhân sinh, không ý thức gì đến nó nên nó khép kín lại; nhưng khi bước qua cõi bên này thì nó từ từ mở ra như những trang giấy phô bày rõ rệt trước mắt. Nhờ vậy mà cha biết rõ rằng hạnh phúc hay khổ đau cũng đều do chính ta tạo ra và lưu trữ trong mình. Cuốn sổ lưu trữ này là bằng chứng cụ thể của những đời sống đã qua và chính nó kiểm soát tần số rung động của mỗi cá nhân. Tùy theo sự rung động mà mỗi cá nhân thích hợp với những cảnh giới riêng và sẽ sống tại đó khi bước qua cõi giới bên này. Do đó, muốn được thoải mái ở cõi bên này, các con phải biết chuẩn bị. Cha mong các con hãy bắt tay vào việc này ngay. Các con hãy rán làm những việc lành, từ bỏ những hành vi bất thiện. Khi làm bất cứ việc gì, các con hãy suy gẫm xem hậu quả việc đó như thế nào, liệu nó có gây đau khổ hay tổn thương cho ai không? Đừng quá bận rộn suy tính những điều hơn lẽ thiệt mà hãy tập quên mình. Đời người rất ngắn, các con không có nhiều thời giờ đâu.
Khi còn sống, đã có lúc cha dạy các con phải biết đầu tư thương mại để dành tiền bạc vào những trương mục tiết kiệm, những bất động sản, những chứng khoán... nhưng bây giờ cha biết rằng mình đã lầm. Một khi qua đến bên đây, các con không thể mang nhũng thứ đó theo được. Danh vọng, địa vị, tài sản vất chất chỉ là những thứ có tính cách tạm bợ, bèo bọt, đến hay đi như mây trôi, gió thổi, trước có sau không. Chỉ có tình thương mới là hành trang duy nhất mà các con có thể mang theo mình qua cõi giới bên này một cách thoải mái, không sợ hư hao mất mát. Tình thương giống như đá nam châm, nó thu hút những người thương nhau thực sự, để họ tiến lại gần nhau, kế hợp với nhau. Nó là một mãnh lực bất diệt, mạnh mẽ, trường tồn và chính nhờ lòng thương này mà người ta có thể tìm gặp lại nhau trải qua không gian hay thời gian. Chắc hẳn các con nghĩ rằng người cha nghiêm nghị đầy uy quyền khi trước đã trở nên mềm yếu chăng? Này các con, chỉ khi nào buông xuôi tay bước qua thế giới bên này, các con mới thực sự kinh nghiệm được trạng huống của mình, tốt hay xấu, hạnh phúc hay đau khổ, thích hợp với cảnh giới thanh cao tốt lành hay những nơi chốn thấp thỏi xấu xa. Hơn bao giờ hết, cha xác định rằng điều cha học hỏi nơi đây là một định luật khoa học thật đơn giản mà cũng thật huyền diệu. Nó chính là cái nguyên lý trật tự và điều hòa hằng hiện hữu trong vũ trụ. Sự lựa chọn để sống trong cảnh giới mỹ lệ đẹp đẽ hay tăm tối u minh đều do những tần số rung động của mình mà ra cả và chính mình phải chịu trách nhiệm về cuộc đời của mình hay lựa chọn những nơi mà mình sẽ đến.
Khi còn sống cha tin rằng chết là hết, con người chỉ là sự cấu tạo của các chất hữu cơ hợp lại, nhưng hiện nay cha biết mình đã lầm. Cha không biết phân biệt phần xác thân và phần tâm linh. Sự chết chỉ đến với phần thân xác trong khi phần tâm linh vẫn hoạt động không ngừng. Nó đã hoạt động như thế từ thuở nào rồi và sẽ còn tiếp tục mãi mãi. Hiển nhiên các nhân của cha không phải là cái thể xác đã bị hủy hoại kia mà là phần tâm linh vẫn tiếp tục hoạt động này, do đó cha mới cố gắng liên lạc với các con để hoàn tất điều mà cha đã hứa với các con khi xưa. Cha nghiệm được rằng sự sống giống như một giòng nước tuôn chảy không ngừng từ nơi này qua nơi khác, từ hình thức này qua hình thức khác. Khi trôi chảy qua những môi trường khác nhau nó sẽ bị ảnh hưởng những điều kiện khác nhau; và tùy theo sự học hỏi, kinh nghiệm mà nó ý thức được bản chất thiêng liêng thực sực của nó. Cũng như sống biển có đợt cao, đợt thấp thì đời người cũng có những lúc thăng trầm, khi vinh quang tột đỉnh, lúc khốn cùng tủi nhục, nhưng nếu biết nhìn lại toàn vẹn tiến trình của sự sống thì kiếp người có khác chi những làn sóng nhấp nhô, lăng xăng trên mặt biển đâu! Chỉ khi nào biết nhận thức về bản chất thật sự của mình vốn là nước chứ không phải là sóng thì các con sẽ ý thức được tính cách trường cửu của sự sống. Từ đó các con sẽ có một quan niệm rõ rệt rằng chết chỉ là một diễn tiến tất nhiên, một sự kiện cần thiết có tính cách giai đoạn chứ không phải một cái gì ghê gớm như người ta thường sợ hãi. Điều cần thiết không phải là trốn tránh sự chết hay ghê tởm nó, nhưng là sự chuẩn bị cho một sự kiện tất nhiên phải đến một cách thoải mái, ung dung vì nếu khi còn sống các con đã đem hết khả năng và phương tiện của mình để giúp đời, để yêu thương mọi loài thì lúc lâm chung, các con chẳng có gì phải luyến tiếc hay hổ thẹn với lương tâm cả. Trước khi từ biệt các con, cha muốn nói thêm rằng hiện nay cha đang sống một cách thoải mái, vui vẻ và an lạc chứ không hề khổ sở.
Nguồn: Khí Công Y Đạo Việt nam
Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2012
Chữa viêm khí quản mãn tính
1. Lá chè nấu với trứng gà:
15 gr lá chè xanh, 2 quả trứng gà, 1 bát nước. Tất cả đun sôi. trứng chín vớt ra bỏ vỏ. Tiếp tục đun cho đến khi cạn nước. Ăn trứng.
Tác dụng: tiêu đờm, khỏi ho.
2. Phổi lợn, rau Diếp cá:
600 gr rau Diếp cá, 200 gr phổi lợn rửa sạch, bóp hết bọt nước. Cho nước vừa đủ, ninh nhừ, cho thêm gia vị. Ăn cái, uống nước.
Tác dụng: chữa viêm khí quản mãn tính.
3. Nước gừng, Hạnh nhân và phổi lợn:
200 gr phổi lợn, thái nhỏ, rửa sạch để ráo nước, cho vào 10 gr Hạnh nhân, nước vừa đủ, ninh nhừ, sau đó cho vào 1thìa cà phê nước gừng, 1 ít muối. Ăn cái, uống nước.
Tác dụng: Bổ phổi, tiêu đờm, khỏi ho.
Dùng cho người cao tuổi viêm khí quản mãn tính, ho nhiều đờm, lạnh, ho lâu ngày không khỏi.
Vương văn Liêu
1. Lá chè nấu với trứng gà:
15 gr lá chè xanh, 2 quả trứng gà, 1 bát nước. Tất cả đun sôi. trứng chín vớt ra bỏ vỏ. Tiếp tục đun cho đến khi cạn nước. Ăn trứng.
Tác dụng: tiêu đờm, khỏi ho.
2. Phổi lợn, rau Diếp cá:
600 gr rau Diếp cá, 200 gr phổi lợn rửa sạch, bóp hết bọt nước. Cho nước vừa đủ, ninh nhừ, cho thêm gia vị. Ăn cái, uống nước.
Tác dụng: chữa viêm khí quản mãn tính.
3. Nước gừng, Hạnh nhân và phổi lợn:
200 gr phổi lợn, thái nhỏ, rửa sạch để ráo nước, cho vào 10 gr Hạnh nhân, nước vừa đủ, ninh nhừ, sau đó cho vào 1thìa cà phê nước gừng, 1 ít muối. Ăn cái, uống nước.
Tác dụng: Bổ phổi, tiêu đờm, khỏi ho.
Dùng cho người cao tuổi viêm khí quản mãn tính, ho nhiều đờm, lạnh, ho lâu ngày không khỏi.
Vương văn Liêu
Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012
Ẩm thực chữa mỡ
nhiều trong máu
|
|
BS. Thu Hương
Chứng bệnh mỡ nhiều trong máu là chỉ một loại hoặc nhiều
loại thành phần chất béo trong máu như cholesterol hay triglycerid hoặc cả
hai tăng cao quá mức bình thường. Nó phát sinh thường là do ăn quá nhiều chất
béo, do sự tổng hợp trong cơ thể quá nhiều hoặc do sự tiêu trừ của tổ chức
ngoại vi suy giam. Bệnh có thể nguyên phát bẩm sinh hoặc do các bệnh khác dẫn
tới.
Theo quan điểm Đông y
Đông y cho rằng, chứng bệnh này gốc ở việc trao đổi vận hóa phân
bố nước bọt và mồ hôi khác thường, sinh ra đờm đục trong cơ thể, làm trở ngại
sự vận hành, sinh ra và biến đổi của khí huyết. Chức năng của ngủ tạng có sự
mất mát, lách mất đi sự vận động, thận mất đi sự biến đổi , gan mất đi sự sơ
thông, phổi mất đi sự phân bố, tim mất đi vai trò chủ trì. Nên nói chứng bệnh
này thuộc gốc hư ngọn thực, phép trị có thể dùng phương pháp tiêu đờm, tiết
đục, vận động kiện toàn, bổ thận, mềm gan hoạt huyết, trong đó việc kết hợp
chữa trị bằng ăn uống rất quan trọng.
Nguyên tắc ăn uống
Nên ăn nhiều rau xanh, hoa quả, ăn các loại thịt nạc, thịt thỏ,
thịt dê… ăn nhiều đậu và các chế phẩm từ đậu.
Không ăn mỡ động vật và nội tạng mà thay bằng dầu thực vật.
Thay đổi cách chế biến các món ăn như: tăng cường hấp, luộc,
ninh, nhúng, chao, hầm, không dùng phương pháp chế biến rán, hun, quay,
nướng…
Giảm ăn hoặc kiêng ăn đồ ngọt.
Món ăn bài thuốc
-Hải đới tươi hoặc hải đới ngâm nở 100g, đậu xanh 50g, nước 500ml
nấu cháo. Ngày ăn 1-2 bát
-Cháo bột ngô gạo tẻ: khuấy bột ngô trong nước lạnh. Gạo tẻ cho
nước vừa đủ, nấu thành cháo, cho bột ngô vào cháo khuấy đều, đun sôi thành cháo.
Điều trị có hiệu quả bệnh xơ cứng động mạch, bệnh động mạch vành. Người mắc
bệnh mỡ máu cao nên ăn thường xuyên.
-Lấy phần cuộng dưới rau cần khoảng 20 gốc cả rễ, khoảng 500ml
nước, sắc còn 200ml nước đầu uống hết, cũng như vậy sắc nước thứ hai. Uống
lúc đói là tốt nhất. Dùng cho người mỡ máu cao nhất là cholesterol máu cao,
gan dương huyết cao, huyết ứ, đờm ẩm nhiều.
-Cháo cà rốt gạo tẻ: cà rốt tươi 2 củ, nấu với gạo tẻ thành cháo,
ăn vào hai buổi sáng, chiều. Cháo này có thể ăn thường xuyên, kéo dài, có lợi
chữa và phòng bệnh huyết áp cao, giảm lượng mỡ trong máu, tăng cường thể lực
người cao tuổi, những người mắc bệnh đái tháo đường dùng bài thuốc này rất
tốt.
-Hành tây thêm gia vị xào không hoặc luộc, kiêng dùng mỡ động
vật, mỗi ngày ăn 100g, dùng cho người mỡ máu cao kèm cao huyết áp, bệnh van
tim.
-Cháo gạo tẻ lá sen: dùng 1 lá sen to, rửa sạch, sắc kỹ bỏ bã lấy
nước. Cho 100g gạo vào nước lá sen, một ít đường phèn, nấu thành cháo. Bài
thuốc này chữa bệnh huyết áp cao, mỡ máu nhiều, chứng bệnh mùa hè cảm nóng,
đầu óc choáng váng, quay cuồng, tiểu ít, nước tiểu đỏ rất có hiệu quả, có tác
dụng thanh nhiệt, giảm mỡ.
-Nước sơn tra pha đường: mỗi lần dùng 15-30g sơn tra đã phơi khô.
Sau khi sơn tra đã sắc kỹ, bỏ bã, lấy nước cho đường uống thay nước trà hàng
ngày, có tác dụng giảm lượng mỡ trong máu.
-Hà thủ ô 15g, thảo quyết minh 30g, linh chi 15g, hổ trượng 30g,
lá sen 15g, sơn tra 15g, lá trà 15g hãm với nước sôi. Uống lâu dài có thể
giảm cholesterol, làm mềm mạch máu, phòng bệnh động mạch vành, bệnh huyết áp
cao… còn có tác dụng chữa bệnh mất ngủ, tiêu phù nề…
-Sơn tra 10g, hoa cúc 10g, quyết minh tử 10g, sắc nước uống thay
trà, dùng cho người mỡ máu cao, thích ăncao lương mỹ vị và kèm có huyết áp cao, gan dương quá mức bình
thường.
-Vỏ lạc khô 50 - 100g rửa sạch, đun nước uống, ngày 1 thang, dùng
cho người mỡ máu cao, lách hư.
-Sơn tra 25g, ngân hoa 25g, cúc hoa 25g nấu nước uống thay nước
trà. Tác dụng thông kinh mạch, giảm mỡ máu.
|
|
nguyenkhanh
BS. Thu Hương |
Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2012
Nguyên nhân đau tay vai so với kết qủa
máy đo áp huyết
.....Một bệnh nhân nữ 48 tuổi, áp huyết rất tốt đều cả 2 tay.
Đau tay đã lâu ở vùng cùi chỏ, cánh tay, vai. Có lúc đã khỏi, nhưng có khi lại bị tay yếu không có sức để cầm nhấc đồ vật nhẹ, dễ bị mỏi tay. Em đã cho tập co duỗi tay theo hơi thở ra vào nhưng không thấy bớt.
Xin Thầy hướng dẫn cách tập và dùng những huyệt nào để làm mạnh tay.
........
Trả lời :
Có 2 trường hợp để chữa khi xác định được bệnh thuộc thực chứng hay hư chứng về áp huyết, nên cần phải đo áp huyết 2 tay chính xác cả 3 số :
Từ số đo áp huyết sẽ có những trường hợp xảy ra như sau :
1-Chênh lệch ở 2 tay, một tay là thực chứng, số đo áp huyết cao hơn tiêu chuẩn, như 160/92mmHg mạch 80, một tay bình thường như 130/80mmHg mạch 70, lúc đó hỏi bệnh nhân đau tay nào bệnh nhân sẽ trả lời đau tay bên áp huyết cao, cần phải châm nặn máu 5 đầu ngón tay bên cao, rồi đo lại áp huyết sẽ xuống.
2-Chênh lệch mạch ở 2 tay, một bên áp huyết cao, như 150/95mmHg mạch 110 và một bên áp huyết bình thường 125/80mmHg mạch 75, bệnh này không phải áp huyết cao do thực chứng mà do hư chứng của suy tim. Đem mạch cao 110 trừ cho tiêu chuẩn như mạch bình thường là 75, thì tim đã phải đập nhanh hơn 35 lần. Lấy số đo áp huyết 150 trừ đi 35 thì áp huyết thực sẽ là 115.
3-Nếu áp huyết cao ở bên tay trái, thì do ảnh hưởng của chức năng bao tử, có liên quan đến bệnh của bao tử. Khi bao tử thực chứng thì áp huyết sẽ cao, bao tử hư chứng áp huyết sẽ thấp. Ngược lại, bên tay phải cũng vậy, áo huyết tay phải liên quan đến chức năng của gan, khi gan thực chứng áp huyết cao, gan hư chứng áp huyết thấp.
4-Mạch tim đập nhanh do đi hay chạy thì không kể, bình thường mạch tốt từ 70-80 nhịp trong 1 phút, còn mạch bệnh là mạch thường xuyên cao hay thấp. Mạch trên 90 là người bị nhiệt, từ 120 trở lên là đang bị sốt. Mạch dưới 65 là hàn, 55 trở xuống là sốt rét lạnh. Loại sốt âm là có mạch 120 do trong máu hay trong tạng phủ có virus, mà sờ ngoài da không nóng, đông y gọi là âm hư nội nhiệt. Áp huyết thấp mà mạch cao như 110/78mmHg mạch 120, là khí thiếu, âm hư thường gặp trong bệnh ung thư máu. Vì đây là áp huyết giả cơ thể tự điều chỉnh để duy trì mạng sống như ngọn đèn dầu sắp hết dầu sẽ bị tắt, muốn cứu nó cần phải châm thêm dầu, bệnh nhân có áp huyết như vậy cần phải bổ thêm máu cho đủ. Theo tây y áp huyết 110 tưởng là tốt, nhưng áp huyết thật, lấy mạch 120 trừ 80, vỉ thiếu máu, nên mạch phải đập nhanh hơn 40 lần. Lấy áp huyết giả 110 trừ đi 40, áp huyết thực bây giờ là 70. Áp huyết 70 là cơ thể thiếu khí lực, là người sắp chết, nếu không được tiếp máu.
5-Trường hợp đau tay vai ở trên phải biết mạch cao hay thấp, hàn hay nhiệt
Cách tự làm hạ áp huyết nhanh nhất :
Tưởng tượng đứng trước bếp than, đang nhóm lửa, thổi làm sao 30 hơi thổi mạnh, sau mỗi hơi nghỉ 5-6 giây rồi thổi tiếp để bếp lửa cháy đỏ lên được. Thổi 3 lần như vậy. Trước khi thổi đo áp huyết, sau khi thổi xong 3 lần đo lại áp huyết thấy xuống rõ rệt. Nếu tiếp tục thổi nữa sẽ bị chóng mặt và té xỉu vì áp huyết xuống thấp đột ngột.
Tuy nhiên, có người hỏi, thổi xong một lúc áp huyết lên lại thì sao. Dĩ nhiên nó lên lại từ từ, vì hết hiệu lực của thuốc “khí công thổi”, phải thổi lại nữa, và thổi thường xuyên, khi đi đứng, nằm, ngồi, đi xe, đi làm, thỉnh thoảng thổi 5 hơi, thì suốt ngày áp huyết lúc nào cũng thấp. Hơi thở có giá trị hơn thuốc mà không làm hại sức khỏe, khỏi cấn uống thuốc khỏi cần bấm huyệt. Cũng có người hỏi khi đêm ngủ nó lên lại thì sao, khi lo nghĩ mất ngủ nó sẽ lên lại, còn khi ngủ an giấc, tức là tinh thần thư giãn thì áp huyết không lên.
Còn bấm huyệt, có 1 huyệt mới bệnh nhân tự bấm lấy. Huyệt Ế Phong, chỗ lõm sau tai, bấm mạnh day tả ngược chiều kim đồng hồ 18 lần, sau khi day, sẽ khai khiếu mắt mũi tai, bệnh nhân cảm thấy đầu nhẹ, mũi thông, mắt sáng, tai thính. Nếu áp huyết thấp thì day bổ.
Doducngoc
Nguồn: Khí công Y Đạo Việt Nam
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)