ĂN UỐNG VÀ SỨC KHỎE

PHONG BENH HON CHUA BENH

TRI THUC LA SUC MANH

Thứ Hai, 1 tháng 10, 2012


Khám bệnh bằng máy đo áp huyết tìm
ra được bệnh Ung Thư Máu.
Nữ bệnh nhân ở Toronto, khoảng 40 tuổi, người gầy ốm, mặt xanh xao, vai rút, thở khó như suyễn mãn tính, cơ thể suy nhược, mắt đờ đẫn, không còn thần sắc, tinh thần lo sợ, không có hơi sức để nói, nên bệnh nhân không khai bệnh được.
A-Khám bệnh bằng máy đo áp huyết :
Khi bệnh nhân nằm trên bàn khám, tôi đo áp huyết hai tay có kết qủa như sau :
Tay trái 128/68mmHg mạch 115, tay phải 115/66mmHg mạch 102, tay chân lạnh, da khô.
B-Định bệnh :
Theo tây y thì kết quả áp huyết như vậy là tốt, chỉ có mạch bị nhanh, nhưng theo khí công là áp huyết giả, bệnh thuộc hàn giả nhiệt, vì bắt mạch thuộc mạch sác là mạch nhiệt 115 và 102, áp huyết không cao là khí lực không mạnh, không thuộc mạch phù, khí không thấp không thuộc mạch trì, mà khí thuộc mạch trầm, nên đông y gọi mạch có số đo này là mạch trầm sác. Nếu trầm sác thì tứ chi phải thực nhiệt thì có da khô, nhưng chân tay lại lạnh là mâu thuẫn, vì thế mạch này đã đánh lừa thầy thuốc thiếu kinh nghiệm.
Theo khí công, khi người lạnh, chân tay lạnh mà số đo áp huyết có mạch cao, nguyên nhân do thiếu máu (huyết). Nếu một người có đủ huyết thì mạch đập trung bình là 75, căn cứ vào mạch trung bình này để tìm áp huyết thực theo cách tính sau đây :
Áp huyết tay trái mạch 115 trừ đi mạch tiêu chuẩn 75, thì do thiếu máu mà tim đã phải đập nhanh hơn 40 lần. Do đó áp huyết giả đo được 128 trừ đi 40, áp huyết thật sẽ là 88/68mmHg mạch 75.
Cách tính áp huyết bên tay phải cũng vậy, mạch 102-75, tim đã phải đập nhanh hơn 27 lần, áp huyết giả đo được 115/66mmHg mạch 102 thì áp huyết thật sẽ là 88/66mmHg mạch 75. Áp huyết này so sánh với áp huyết tiêu chuẩn của khí công theo lứa tuổi dưới đây là tình trạng khí huyết đều thiếu, dưới áp huyết của đứa bé 1 tuổi không đủ khí huyết nuôi đầy đủ các tế bào của một thân xác người lớn 40 tuổi, do đó kết luận bệnh này là bệnh ung thư máu :
95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.( 5 tuổi-12 tuổi)
100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 65 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi – 17 tuổi)
110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)
120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)
130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)
Khi tôi khám và định bệnh xong, tôi nói : Cô bị bệnh ung thư máu. Bệnh nhân nghe xong giựt mình, trả lời : Con bị ung thư máu, đang chữa hóa xạ trị được đến lần thứ 7. Cơ thể mất sức dần, không ăn ngủ được, khó thở, đau nhức da thịt toàn thân.
C-Cách chữa theo Tinh-Khí-Thần :
Tôi cho biết, ung thư là do thiếu khí huyết, như một cây cao lớn mà mỗi ngày chỉ tưới nước rất ít như tưới nước cho một cây bé, thì cây sẽ chết khô, con người thiếu khí huyết cũng như vậy. Cho nên, dù chữa theo cách nào, phương pháp nào của tây y hay đông y, mà áp huyết mỗi ngày hay mỗi đợt chữa trị phải tăng lên dần đúng theo tiêu chuẩn ở trên là khỏi bệnh, còn càng chữa áp huyết càng xuống thấp là phương pháp chữa đó đã sai, thiếu khí huyết con người phải chết oan uổng vì sự sai lầm này.
Do đó cách chữa của khí công không cần diệt tế bào ung thư, vì cơ thể không đủ máu nuôi dưỡng đủ các tế bào, nên tế bào không được máu nuôi dưỡng sẽ bị hủy hoại dần mới trở thành tế bào ung thư, sẽ tự phát triển vô tổ chức làm tắc nghẽn tuần hoàn khí huyết gây đau đớn da thịt và toàn thân. Nên việc ưu tiên là phải bổ máu và biết cách giữ công thức máu không bị phá vỡ bằng cách luyện khí tăng cường oxy cho cơ thể để máu có nhiều oxy sẽ không bị trở thành máu đen, vì công thức máu đen là oxyde sắt nhị Fe2O2, nếu cơ thể có thêm oxy do biết cách hít thở máu đen sẽ biến thành máu đỏ oxyde sắt tam Fe2O3, ngược lại không biết cách hít thở khí công, cơ thể mất thêm oxy thì máu đen oxyde sắt nhị mất Oxy chỉ còn lại chất sắt Fe2, lúc đó cơ thể mất máu, máu bị khô đen, mầu da biến đổi thành xanh đen, lúc đó áp huyết xuống đến dưới 80, mạch cao hơn 120, các tế bào chết, cơ thể đau đớn, hơi thở thoi thóp cho đến khi tim mạch ngưng đập.
Cách điều chỉnh Tinh :
1-Cần phải tiếp máu, uống hay chích B12 với truyền nước biển.
2-Ăn uống những thức ăn có chất bổ máu, những chất làm tăng dương, tăng khí lực, như súp thịt bò, rau dền, củ dền, súp xương gà, súp đồ biển…
3-Kiêng ăn những chất chua hàn lạnh làm mất máu, mất hồng cầu.
4-Mỗi lần ăn ít một chia làm nhiều lần để cơ thể dễ hấp thụ và tiêu hóa.
5-Uống nước trà gừng mật ong, trà quế gừng mật ong, trà bạch quả (ginkgo) hay thuốc bổ ống Ginkgo để thanh lọc máu, tăng cường oxy cho máu, giúp phục hồi chức năng thần kinh não bộ cho tỉnh táo, tăng cường chức năng tạng phủ làm việc đồng bộ, giảm đau, an thần, ngủ ngon.
Đo áp huyết theo dõi thức ăn uống mỗi ngày, nếu thấy áp huyết tăng dần là có kết qủa khỏi bệnh.
Cách điều chỉnh Khí :
1-Tập bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 50 lần sau mỗi bữa ăn 30 phút, ngày ăn 6 lần thì tập 6 lần, giúp cơ thể tăng tính hấp thụ và chuyển hóa chất bổ của thức ăn thành máu đỏ, loại bỏ độc tốn nhanh theo đường tiêu tiểu, sẽ không bị táo bón hay tiêu chảy, bài tập này làm da tươi nhuận hồng hào, mềm mại.
2-Khi cơ thể có sức lực, khi đi đứng không bị chóng mặt hay mệt mỏi, sẽ tập thêm những bài tập khí công ở thế đứng như :
a-7 bài đầu khí công để phục hồichức năng thần kinh.
b-Bài Vỗ Tay 4 Nhịp 100 lần tăng tăng oxy cho tim phổi.
c-Bài Cúi Ngửa 4 Nhịp 20 lần để cung cấp máu lên nuôi não.
d-Bài Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực 50 lần sau đó ngậm miệng giữ khí, đo lại áp huyết sẽ thấy áp huyết tăng, cơ thể nóng ấm, hơi thở mạnh, cảm thấy khỏe.
Cách điều chỉnh Thần :
Tối trước khi đi ngủ 30 phút, nằn tập thở thiền ở Đan Điền Thần.
Nam đặt bàn tay trái, nữ đặt nhẹ bàn tay phải lên mỏm xương ức nơi Đan Điền Thần, tay kia đặt chồng lên trên, thả lỏng vai. Cuốn lưỡi ngậm miệng, nhắm mắt, thở bằng mũi bình thường giống như lúc đang ngủ, chỉ cần cho bộ óc làm việc theo dõi bụng phồng lên xẹp xuống theo hơi thở tự nhiên, cách này gọi là theo dõi hơi thở, danh từ chuyên môn gọi là Quán Tức (quan sát hơi thở), không những quan sát hơi thởm còn theo dõi để ý khí huyết chuyển động trong bụng như sôi bụng, bụng nóng ấm, bàn tay rịn mồ hôi, khí chạy từ ngực, từ bao tử, từ gan chạy xuống bụng dưới….
Khi quán tức được chính xác, bắt đầu luyện trí nhớ để tập trung ý vào nơi bụng đang phồng lên xẹp xuống, bắt đầu đếm hơi thở mỗi khi bụng xẹp xuống, đầu ghi nhớ là 1 lần, rồi bụng xẹp lần thứ 2 ghi nhớ là 2 lần, đếm từ 1 đến 10 kể là 1 chục, rồi từ 1 đến 10 nữa kể là 2 chục, 1 đến 10 nữa kể là 3 chục, có thể đếm lên tới 100 chục trở lên mà không nhầm lẫn thì trở thành thiền sư rồi.
Có hai công dụng của thiền :
Nếu đạt tới 100 chục lần thì lúc đó đã đạt được trạng thái Thiền Tỉnh Thức, tức là sóng não xuống thật thấp khoảng 1-2 Hertz dưới tần số ngủ là 5-6 Hertz mà vẫn tỉnh táo, như vậy người ta mới so sánh 1 giờ thiền tương đương với 2 giờ được ngủ ngon không mộng mị.
Nếu không đạt được trạng thái Thiền Tỉnh Thức, vì chúng ta không phải là Thiền sư, nên vừa mới đếm được tối đa khoảng 30 chục đã rơi vào trạng thái Hôn Trầm (buồn ngủ) bàn tay đã mất sự kiểm soát của bộ não, tự nhiên rơi xuống, cơ thể thả lỏng, đi vào giấc ngủ sâu mà không biết, khi giựt mình tỉnh giấc là đã ngủ được 8 tiếng êm đềm không mệt mỏi đau đớn mộng mị.
Cho nên tập thiền là liếu thuốc an thần, giảm đau, mau phục hồi thể lực, tăng hồng cầu, tăng tính hấp thụ và chuyển hóa, tăng cường hệ miễn nhiễm của cơ thể. Nếu tập được đúng như thiền sư thì không cần ngủ, thức đến sáng mà không mệt mỏi, đó là thiền Tỉnh Thức, bộ óc và thần kinh cũng thư giãn như được ngủ 16 tiếng, còn chỉ bắt đầu tập thở thiền đếm hơi thở được 5 phút là cơ thể rơi vào hôn trầm, được ngủ say sưa 8 tiếng cho đến sáng thức dậy con người cảm thấy tỉnh táo nhẹ nhàng khỏe mạnh, như người không bệnh tật, thì mọi bệnh tự nhiên được tiêu trừ.
Cầu ơn trên giải nghiệp bệnh :
Tuy nhiên, những ngườt bị bệnh ung thư, giống như người nghiện thuốc. Muốn khỏi bệnh thì phải có nghị lực quyết tâm bỏ thuốc thì sẽ bỏ được bệnh nghiện dễ dàng. Những hướng dẫn và giải thích nguyên nhân và hậu qủa thiếu máu, thiếu khí từ năm này sang năm khác lâu dài hơn 10 năm trở lên, sẽ gây ra mọi bệnh ung thư, nếu áp dụng đúng theo cách hướng dẫn trên thì khỏi bệnh, nhưng không mấy ai chịu theo, cứ phó mặc cho thầy thuốc, và hậu qủa dẫn đến tử vong, nên thế gian gọi là nghiệp bệnh vì không có nghị lực hay không có sức để tập luyện, do đó lại cần phải có sự trợ lực của tha lực của chư vị thần thánh, gọi là thần lực.
Nên bệnh nhân này đã được hướng dẫn cầu ơn trên giải nghiệp bệnh. Sau khi được tập múa làm tăng thể lực khoảng 30 phút, bệnh nhân xuất mồ hôi, tăng khí lực, tăng hồng cầu, tăng áp huyết, trong lúc tập không đau đớn mệt mỏi, khi nói chuyện, giọng nói mạnh, nét mặt tươi vui mừng rỡ.
Tôi cho bệnh nhân biết, bệnh nhân phải tự cứu mình, cần phải siêng năng tập luyện, bỏ những thứ thuốc có nhiều độc tố gây mất máu mất khí, làm thiếu máu, khiến cơ thể suy nhược thêm, cần phải yêu cầu bệnh viện cho tiếp thêm máu, kiên trì tập luyện, bổ sung những thức ăn bổ dưỡng để mau khỏi bệnh. Sự sống chết còn tùy vào nghiệp bệnh và nghị lực của mỗi người.
Thầy Đỗ Đức Ngọc (khicongydaododucngoc.blogspot.com)


Quả la hán trị bệnh hô hấp


La hán là quả của cây có tên khoa học Momordica grosvenori Swingle thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae). Quả này còn tên gọi khác như la hán quả, giả khổ qua, quang quả mộc miết… thuộc vào loại quả đặc sản của vùng Quế Lâm thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.

Ngoài ra còn thấy La hán tại Quảng Đông hoặc Giang Tây, Trung Quốc. La hán giàu dược tính nên được dùng làm thuốc với tên gọi La hán quả đã được ghi đầu tiên trong sách “Lĩnh Nam thái dược lục”.
La hán tên dược liệu là Fructus Siraitiae Grosvenorii; quả được thu hái vào tháng 9 – 10 hằng năm, phơi hay sấy khô cất dùng dần. Khi sử dụng làm thuốc nên chọn quả lớn tròn, cứng chắc, lắc không kêu, vỏ có màu nâu vàng mới là loại tốt.
Đông y cho rằng quả La hán vị ngọt, tính mát, không độc đi vào hai kinh phế và đại trường (Quảng Tây Trung dược chí nói quy kinh phế và tỳ). Có công năng nhuận phế, lợi hầu, hóa đàm chỉ khát, nhuận tràng thông tiện. Do đó được sử dụng để trị ho phế nhiệt và đàm hỏa nội kết, viêm hầu họng, đại tiện bí kết (trị đàm hỏa ho, ho gà, huyết táo)… Để tham khảo và ứng dụng, xin giới thiệu những phương trị liệu tiêu biểu có La hán.
* Chữa viêm họng: Lấy quả La hán thái hãm với nước sôi, uống thay nước trong ngày.
* Chữa chứng viêm thanh quản (mất tiếng): La hán 1 quả, thái miếng sắc lấy nước uống 2 – 3 lần trong ngày hoặc uống dần mỗi lần một ít.
* Chữa ho gà: La hán 1 quả, hồng khô 25g, sắc lấy nước uống; hoặc La hán 1 quả, phổi heo bóp hết bọt 40g, hầm cùng nhừ, nêm gia vị ăn.
* Chữa ho đờm vàng quánh: La hán 20g, tang bạch bì 12g, sắc lấy nước uống trong ngày.
* Bổ phế (hỗ trợ trong trị lao): La hán 60g, thịt nạc lợn 100g, hai thứ thái lát cho hầm cùng, nêm gia vị đủ, ăn cùng cơm.
* Chữa táo bón: Dùng La hán sắc lấy nước, pha thêm mật ong uống trong ngày.

B.S HOÀNG XUÂN ĐẠI

Thứ Sáu, 28 tháng 9, 2012


Ăn Gạo Lức Muối Mè tốt hay xấu cho sức khỏe ?
       Nếu đúng trên quan điểm chữa bệnh, thì thức ăn uống hay thuốc men đều có tính chữa bệnh, nó tương đương với vị thuốc chữa bệnh, chúng ta có thể kiểm chứng được bằng những kết qủa xét nghiệm y khoa, có cân đong đo đếm cho ra con số cụ thể bằng cách đo áp huyết, thử đường, cholesterol, men gan, hồng cầu, bạch cầu, thể trọng...trước và sau mỗi bữa ăn hay xét nghiệm máu sau 1-3 tháng…
A-Công dụng chữa bệnh của Gạo Lức Muối Mè về mặt tốt
      Ăn gạo lức muối mè thay cho những bữa cơm chính, không ăn đụng, ăn tạp, nó có công dụng giảm mập, làm ốm gầy, hạ áp huyết, hạ cholesterol, hạ đường, giảm men gan…
      Cho nên trước khi ăn, chúng ta cần đi thử máu, đo áp huyết, cân thể trọng. Sau khi ăn được 1 tháng, nên kiểm tra lại xem những tiêu chuẩn thử nghiệm đã lọt vào tiêu chuẩn chưa, nếu chưa lọt vào tiêu chuẩn thì tiếp tục áp dụng, nếu đã lọt vào tiêu chuẩn của xét nghiệm thì ngưng.
      Đối với những người có bệnh cao áp huyết, sẵn có máy đo áp huyết, đo đường ở nhà thì muốn biết ăn Gạo Lức Muối Mè có kết qủa chữa bệnh hay không,  ta nên đo áp huyết theo dõi mỗi ngày và so sánh với tiêu chuẩn áp huyết theo tuổi dưới đây :
       Đây là bảng tiêu chuẩn áp huyết theo loại tuổi theo kinh nghiệm của Khí Công Y Đạo(KCYĐ):
95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.( 5 tuổi-12 tuổi)
100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 65 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi – 17 tuổi)
110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)
120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)
130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)
      Tiêu chuẩn đường trong máu khi bụng đói chưa ăn từ 6.0-8.0mmol/l, sau khi ăn từ 8.0mmol/l-12.0mmol/l.
B-Công dụng chữa bệnh của Gạo Lức Muối Mè về mặt Xấu
       Bản thân của Gạo Lức Muối Mè là một vị thuốc chữa bệnh, thật ra nó không có xấu, tốt, nhưng bệnh của mình không cần phải dùng đến nó, nhưng nghe nhiều người đã chữa khỏi bệnh bằng gạo lức muối mè, nên bắt chước ăn theo, mà không theo dõi áp huyết, đường…nên càng ăn bệnh càng nặng hơn mà không biết tại sao. Theo giáo lý đạo Phật, đó là mê chướng.
      Theo tiêu chuẩn của KCYĐ áp huyết phải tương xứng với từng loại tuổi khác nhau, nhờ đó mà KCYĐ biết và chữa được rất nhiều loại bệnh có liên quan đến áp huyết.
       Còn các bác sĩ Tây y cho rằng người nào có áp huyết từ 100 đến dưới 140 đều tốt, không lo bị bệnh cao áp huyết.
       Vì không phân theo loại tuổi, cho nên có ba loại bệnh về áp huyết mà Tây y không chữa đúng nguyên nhân, bệnh thứ nhất là chảy máu cam ở trẻ em do áp huyết cao, thay vì áp huyết trẻ em từ 95 đến 100, nhưng khi chảy máu cam là áp huyết đã tăng lên 120 như người lớn, do ăn no làm tăng áp huyết, do chạy nhảy nô đùa hay do nóng nắng làm tăng nhịp mạch, vỡ mạch máu mũi.
        Bệnh thứ hai là bệnh động kinh co giật ở trẻ em, cũng do áp huyết cao, khi chúng có dấu hiệu nóng đầu là áp huyết tăng thì sắp sửa bị cơn co giật té ngã.
Nhưng nguy hiểm hơn hết là loại bệnh thứ ba mọi người đều không biết nguyên nhân vì sao, đó là bệnh ung thư, theo KCYĐ khi người lớn có áp huyết từ nhỏ đến lớn lúc nào cũng như áp huyết trẻ em, không khác nào giống như một cây đang phát triển mà từ lúc cây còn bé chỉ tưới 1-2 ly nước là đủ, nhưng đến lớn cũng tưới 1-2 ly nước, nên khi cây phát triển thiếu nước, các tế bào cây chết dần thành nhiều bướu cây. Con người cũng vậy, áp huyết chính là khí huyết trong con người phải tăng lên theo tuổi, khi còn bé cơ thể có 1 lít máu, khi lớn cơ thể tăng 2 lít máu, lớn nữa cơ thể do ăn nhiều hấp thụ chất bổ tạo thành máu tăng lên, do đó mà áp huyết phải tăng theo tuổi. Cho nên những người tuổi trung niên phải có áp huyết nằm trong tiêu chuẩn KCYĐ là :
       120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)
      Nếu khi đo áp huyết chỉ bằng trè em thì cơ thể đã thiếu máu nuôi các tế bào, sẽ là nguyên nhân dẫn đến bệnh ung thư do tế bào bị hủy hoại dần. Đó là lý do tại sao ung thư khó chữa.
       Kinh nghiệm của KCYĐ đã phát hiện ra khi đo áp huyết ở những bệnh nhân ở tuổi trung niên đến lão niên, có áp huyết dưới 90mmHg là có nguy cơ ung thư. Khi áp huyết xuống 80 là đang bị ung thư và đang chữa trị theo tây y, phương pháp vừa tiêu diệt tế bào ung thư vừa làm tổn hại tế bào lành, khiến bệnh nhân mất sức, bị đau đớn, kém ăn, suy nhược, khí huyết mất dần làm áp huyết tụt xuống 70mmHg thì máu trong cơ thể không còn đủ để tuần hoàn, cơ thể lạnh, đau đớn, khó thở, lịm dần cho đến khi chết.
       KCYĐ hướng dẫn những bệnh nhân ung thư cần ăn và uống những thuốc bổ thêm máu để nuôi dưỡng tế bào, khi đang điều trị, mỗi ngày cần phải kiểm tra áp huyết, nếu thấy thấp phải báo cho bác sĩ kịp thời điều chỉnh liều thuốc hay chỉnh lại thời gian trị liệu để cơ thể có đủ thời gian phục hồi lại sức khỏe.
         Nói về áp huyết, tôi có một người bạn già, trong gia đình và các bạn của ông đều là bác sĩ, theo dõi áp huyết của ông rất kỹ, ông vẫn uống thuốc chữa bệnh cao áp huyết, và áp dụng ăn gạo lức muốI mè, gần như là ăn chay, mà thực ra áp huyết của ông đã xuống còn 100, nhưng đối với tây y vẫn phải uống thuốc áp huyết suốt đời, do đó cơ thể ông bị mệt, người bần thần mệt mỏi, bải hoải, không có sức.
         Ông đến tôi để khám bệnh, tôi cho ông biết, sức khỏe ông nguy rồi, ông bị bệnh áp huyết thấp chứ không còn cao nữa, nên các tế bào mất máu nuôi dưỡng sẽ chết dần, làm mọi chức năng tạng phủ suy yếu, mất tính hấp thụ và chuyển hóa, sẽ mất ăn mất ngủ, đau nhức do thiếu máu tuần hoàn. Ông cho biết : Hôm qua người bạn bác sĩ rất thân, gọi nhau bằng mày-tao, nó khen áp huyết của tôi tốt lắm mà.
         Khi ông về, người ông suy nhược trầm trọng, phải vào bệnh viện cấp cứu, tây y không tìm ra bệnh, ông ngủ lịm dần và đã chết trong bệnh viện một tuần lễ sau.
        Tôi muốn nói đến áp huyết rất quan trọng để biết tình trạng khí huyết trong con người còn đủ hay thiếu khi hấp thụ thức ăn đúng hay sai. Như vậy đồi với người cao áp huyết thì thức ăn gạo lức muối mè đã hấp thụ chuyển hóa thành thuốc chữa bệnh đúng. Còn người áp huyết thấp dùng gạo lức muối mè là sai.
Sau khi có phong trào ăn gạo lức muối mè chữa bệnh, mọi người đua nhau ăn, tất cả đều giảm cân, áp huyết xuống thấp, hết cholesterol…rõ ràng có kết qủa. Nhưng không ai thống kê theo dõi áp huyết.
        Nếu chúng ta biết theo dõi áp huyết, đường, mỡ trong máu, men gan, bằng những xét nghiệm định kỳ và đo áp huyết, đo đường mỗi ngày, khi chúng từ cao xuống thấp lọt vào tiêu chuẩn thì ngưng, không cần thiết ăn gạo lức để chữa bệnh nữa.
         Vì không biết điều này, cứ tiếp tục ăn cho đến khi người gầy ốm, mất sức, áp huyết thấp, cơ thể suy nhược, tây y phát hiện ra ung thư mà không tìm ra nguyên nhân, thì đã qúa muộn, không cứu kịp, nên nhiều người đã bỏ mạng sau một đêm ngủ sáng không còn dậy nổi nữa.
         Trong các chùa phật tử rủ nhau ăn gạo lức muối mè, nên nhiều người đã trở nên gầy ốm suy nhược, áp huyết thấp, âm thầm ra đi, điều này ít ai biết.
Tránh tình trạng lạm dụng cách ăn gạo lức muối mè để chữa bệnh một cách không cần thiết cho cơ thể, chúng ta nên đo áp huyết theo dõi mỗi ngày, khi thấy áp huyết lọt vào tiêu chuẩn thì ngưng, đừng để áp huyết thấp dưới tiêu chuẩn sẽ khó chữa cho áp huyết tăng được nếu không ăn uống những chất tăng máu, hay uống thuốc bổ máu.
           Đã có nhiều người mời tôi vào bệnh viện chữa cho thân nhân đang cấp cứu trong bệnh viện, nhưng tôi cũng đành bó tay, đều không chữa được, lý do áp huyết đã xuống 80-90, hỏi nguyên nhân tại sao phải vào bệnh viện, thân nhân đều trả lời do suy nhược, mất sức, chóng mặt, ở nhà đi thường hay té ngã, vẫn đang uống thuốc chữa cao áp huyết, chỉ tưởng té ngã hôn mê do tai biến mạch máu não. Tôi hỏi thường ăn uống những thức ăn gì, họ đều cho biết đang theo phương pháp Gạo Lức Muối Mè được 5 năm. Chính bệnh nhân đã phạm sai lầm, vừa làm hạ áp huyết bằng thuốc, vừa làm hạ áp huyết bằng gạo lức muối mè khiến áp huyết xuống nhanh thê thảm.
           Từ trước đến nay chưa ai tiết lộ điều này, vì theo tây y hạ áp huyết xuống đến 100 lại cho là rất tốt, nên ngay cả bác sĩ khi bị bệnh cao áp huyết, do uống thuốc áp huyết xuống thấp dưới 100, chân yếu hay té ngã, mệt, khó thở, mà vẫn phải uống thuốc hạ áp huyết.
C-Phương Pháp ăn gạo lức muối mè tốt không làm áp huyết thay đổi
        Phương pháp Oshawa đã được áp dụng từ lâu, rộ lên một thời rồi chìm, hai ba lần, nay lại rộ lên phong trào rồi cũng sẽ lại chìm vì nhiều người từ bệnh thành khỏe rồi suy nhược thiếu dinh dưỡng, âm thầm ra đi lìa bỏ thế gian.
Tôi được người bạn giới thiệu ăn gạo lức muối mè từ năm 1968, chỉ gạo lức muối mè, không uống nước, giống như ăn chay, không ăn đụng thức ăn mặn, có thể ăn thêm rau.
       Mỗi miếng cơm nhai 50 lần, ăn xong 1 chén cơm mất 1 giờ. Tối đa chỉ ăn được 2 chén cơm, vừa mất thời giờ, vừa nhai mỏi miệng, tính liều lượng chất bổ của 2 chén cơm thì không được bao nhiêu để nuôi tế bào đối với người gầy ốm. Bạn tôi cũng đã chết, vì người ốm xơ xác chứ không mập mạp.
        Tôi nghĩ muốn tiếp tục ăn gạo lức muối mè thì ít nhất cũng phải ăn được 5-7 chén cơm mỗi ngày bù lại so với người có ăn thêm chất đạm, nhưng thời gian ăn nhai không cho phép. Tôi đã chế biến cách nấu riêng cho tôi như sau :
Lấy 2 chén gạo lức vàng vo như vo gạo trắng, nhưng khi nấu, tôi đổ 8 chén nước, định nấu cháo, nên nấu lâu, nhỏ lửa cho gạo nhừ, ai dè gạo lức nở rất to và cạn thành cơm.
         Ăn với muối mè thêm đậu phộng rang, ít đường, giã trộn đều cho có thêm chất đạm.
         Khi bỏ miếng cơm vào miệng nhai, gạo không nát mà mềm, vỏ gạo không cứng, vừa nhai, vỏ gạo vỡ ra chảy ra một loại nước như sữa tan trong miệng, không phải nhai lâu mỏi răng, trong 30 phút ăn hết nồi cơm, lại dễ ăn có mùi vị ngon, ăn xong chiều bụng lại đói, nên những lần nấu cơm sau, tôi nấu 3 chén gạo lức với 12 chén nước. Tính trung bình mỗi bữa cơm tôi ăn 7-8 chén cơm mới no, cơ thể có nhiều nước từ gạo, nên cơ thể đủ nước, một năm tôi lên cân được 10 kgs, da thịt chắc, trẻ lại. Tôi cũng phải ngừng, tiếp tục ăn nữa thành người mập phì.
         Đó là kinh nghiệm của tôi, tùy mọi người áp dụng muốn tăng cân hay giảm cân, đều phải theo dõi áp huyết, thể trọng, khi sử dụng cho phù hợp với tình trạng bệnh của mình.
         Muốn tăng huyết, có thể uống thêm B12, ăn thêm Củ Dền Đỏ, Rau Dền, tất cả những thức ăn uống thuốc men là bổ Tinh, muốn giữ tinh huyết cần phải tập luyện thêm khí để bảo quản máu tuần hoàn tốt bằng cách tập toàn bài thể dục khí công, và tập thở thiền để dưỡng Thần, mới gọi là Tinh-Khí-Thần hòa hợp, cơ thể mới khỏe mạnh, không bệnh tật.

   Thầy Đỗ Đức Ngọc
Nguồn: khicongydaododucngoc.blogspot.com



Thứ Năm, 27 tháng 9, 2012


  
Mẹo vặt chữa bệnh
1.Chữa nghiến răng bằng tinh hoàn heo
       Tôi có người em trai, hồi nhỏ ngủ vẫn thường nghiến răng ken két, mẹ tôi đã hỏi được một mẹo và đã làm cho em tôi ăn, kết quả là sau một thời gian thì khỏi. Bạn áp dụng thử xem. Bạn mua tinh hoàn của con heo, rồi nấu ăn lên bình thường.
 Mai Thị Khanh
 

2.Chữa mắt cá chân bằng ngải cứu
         Đã có lần tôi bị mắt cá chân, lúc đầu chỉ là vài nốt mọc dưới gan bàn chân, sau lan ra cả bàn chân khiến tôi rất nhói đau. Sau đọc ở mẹo vặt, thấy có cách này, tôi đã làm và rất thành công.
- Lấy lá ngải giã nát, bôi vào cái mụn cái (là cái mọc đầu tiên). Sau một thời gian nó tự tiêu đi mất và những cái mụn con cũng mất luôn. Bạn nào bị như vậy thì thử xem nhé!

Hạnh

Thứ Tư, 26 tháng 9, 2012


Thói quen ăn nhạt, ăn mặn,
uống nước nhiều mất muối
làm thay đổi Natri-huyết sẽ bị bệnh gì ?
Khi thử máu để tìm bệnh, không bị thiếu máu, áp huyết đúng tiêu chuẩn, mà cơ thể vẫn bị mệt mỏi, co cơ, buồn ngủ đờ đẫn như hôn mê, phải nghĩ ngay đến dấu hiệu bệnh do Natri-huyết thay đổi bất bình thường.
A- Hậu qủa khi ăn nhạt lâu ngày :
Cơ thể thiếu muối, nếu thử máu có lượng Natri-huyết giảm dưới tiêu chuẩn 135mEq/lít hay 135mmol/l sẽ bị bệnh như :
Không đói, chán thức ăn, ói mửa, kiệt sức, lẫn tâm thần, thiếu muối nặng sẽ bị co giựt cơ và hôn mê
Giảm thẩm thấu huyết tương, tăng ngấm nước tế bào rối loạn ở não và ở thận.
B-Hậu qủa khi ăn quá mặn do thói quen :
Khi thử máu có lượng Natri-huyết cao hơn 145mEq/lít sẽ bị bệnh như :
Ý thức u ám, lẫn tâm thần, hôn mê, tăng áp lực thẩm thấu ở người có bệnh tiểu đường, người già, những người điều trị bằng corticoid, tạo ra phàn ứng người cứng ngắt và sốt.
Tăng áp lực thẩm thấu huyết tương, mất nước tế bào gây rối loạn não, giảm niệu và tăng ure-huyết, có khả năng bọc máu dưới màng cứng.
C-Nguyên nhân làm Natri-Huyết giảm :
Làm cơ thể thiếu Natri do chế độ ăn nhạt khắt khe hoặc do chữa trị bệnh thận sai làm thoát natri trong bệnh viêm thận, bể thận, thận đa u nang.
Khi mất qúa nhiều muối làm cơ thể vã mồ hôi, ra đàm nhớt trong ói mửa do hút bao tử và ruột, do lỗ dò tiêu hóa, do tiêu chảy nhiều, hoặc do tình trạng tắc ruột, hay phỏng nặng.
Những người lạm dụng thuốc lợi tiểu, đa số những người dùng thuốc lợi tiểu trong chữa bệnh cao áp huyết, chữa bệnh bí tiểu
Những người bị bệnh thận như suy thượng thận thì natri-huyết giảm, kali-huyết tăng.
Bệnh thận với thoát mất muối trong bệnh viêm bể thận mạn.
Trong những bệnh ung thư phế quản với tế bào nhỏ, ung thư tụy, u tuyến ức, sacrom-lưới, bệnh phổi cấp. lao phổi.
D-Nguyên nhân làm Natri-Huyết tăng :
Cơ thể dư thừa muối do chế độ ăn uống sai hoặc do trong điều trị sai :
Thừa muối hoặc thừa natri-hydrocarbonate
Do bệnh tiêu chảy, ói mửa, hút bao tử, giãn bao tử, tắc ruột, vã mồ hôi, thở nhanh.
Do mất nước ngoài thận trong bệnh tiểu nhiều gọi là đa niệu thẩm thấu, bệnh tiểu đường, và do dùng thuốc lợi tiểu.
Do truyền dung dịch ưu trương, truyền ure, nước tiểu trắng nhạt do thận hư.
E-Nguyên nhân uống nước nhiều hay ít :
Nước uống vừa đủ không nên uống nhiều hoặc uống ít cũng đều gây ra bệnh làm Tăng hay Giảm Natri-Huyết:
1-Làm giảm natri-huyết do thừa nước :
Bởi uống nhiều nước, hoặc thừa dung dịch Glucoza trong lúc ăn nhạt không có muối, nhất là sau khi phẫu thuật lại cho uống nước trong khi có suy thận, tiểu ít hoặc bí tiểu, càng làm cho cơ thể dư nước khiến Natri giảm thấp gây co giựt hôn mê, ngoài những dấu hiệu sưng phù chân, giảm trí nhớ, hay quên. Trong bệnh xơ gan mà dùng thuốc lợi tiểu, trong hội chứng hư thận, suy tuyến giáp.
Đa số những người Tây phương và những người Việt Nam bắt chước theo Tây y có thói quen uống nước nhiều mục đích tưởng là để lọc thận, nhưng thực tế qua thống kê xét nghiệm y khoa lâm sàng thì trái lại nó làm cho chức năng thận hư phải bị lọc thận, làm liệt cơ ruột mất chức năng co bóp làm ung thư ruột, sưng tuyến tiền liệt, giảm trí nhớ, lú lẫn lớn tuổi bị bệnh mất trí nhớ
2-Làm tăng Natri-Huyết do thiếu nước :
Những người già, trẻ còn bú, người bệnh liệt giường, người khó nuốt,.. thường không theo dõi kỹ để họ bị thiếu nước làm tăng Natri-huyết sinh ra bệnh co cứng gân cơ, cắn chặt hàm hay không mở miệng lớn được.
Lưu ý những thầy chữa bệnh theo phương pháp Khí Công Y Đạo lúc nào cũng khám định bệnh bằng máy đo áp huyết, máy đo đường, và súng nhiệt kế laser Thermo-Flash đo trên huyệt, đo lưỡi, theo dõi khí huyết, âm-dương, hàn-nhiệt để tìm ra bệnh thuộc khí hay huyết.
Cơ thể thiếu khí oxy, hay thiếu khí chuyển hóa huyết thì có thể tập khí công để chuyển hóa huyết dễ dàng làm cho các xét nghiệm máu lọt vào tiêu chuẩn được.
Nhưng bệnh thuộc huyết như thiếu máu, thiếu nước hay dư làm ra bệnh thì phải biết để hướng dẫn bệnh nhân điều chỉnh lại cách ăn uống thuộc Tinh, như thìếu máu phải ăn uống những chất bổ máu, thiếu muối, calci, đường cần phải ăn cho đủ, nếu dư thừa cần ăn bớt lại.
Vì đa số những trường hợp tự nhiên bệnh nhân có cơn co giựt nhẹ, lú lẫn tâm thần, chuột rút do thiếu calci, thiếu đường, dư nước…, ít có ai để ý đến nguyên nhân này, vì bệnh nhân không thử máu hoặc các bác sĩ không định bệnh đúng, nếu những bệnh chữa lâu không khỏi vì không đúng nguyên nhân gốc đều được chuyển qua cho các bác sĩ chuyên môn dẫn đến điều trị sai lầm không cần thiết, vì những bệnh này rất thông thường mà chúng ta hay gặp.
Theo Thầy Đỗ Đức Ngọc ( Khí Công Y Đạo Việt Nam)

Tổng số lượt xem trang