ĂN UỐNG VÀ SỨC KHỎE

PHONG BENH HON CHUA BENH

TRI THUC LA SUC MANH

Thứ Năm, 5 tháng 1, 2012

Bệnh án chữa DI TINH

      Hoàng Hữu H, 30 tuổi, bị di tinh đã lâu năm. Có khi do mộng mà gây di tinh, có khi chỉ mới nghĩ đến đàn bà, tinh đã tiết ra. Đã chữa trị nhiều theo Đông và Tây y nhưng không bớt. Tôi khám thấy mạch bộ thốn và quan Huyền, Hoạt, bộ xích Trầm, Tế, sắc lưỡi đỏ hồng, không rêu... Tôi đoán đó là hiện tượng của chứng ‘thoát dịch’. Vì thường cứ cách 1 - 2 ngày lại tiết tinh một lần, do đó, tinh thần kém sút, thân thể gầy còm, trí nhớ giảm, chân đi chóng mỏi, eo lưng đau nhức, đầu choáng, mắt hoa. Sách ‘Nội Kinh’ ghi: Tâm là quân hỏa, Thận là tướng hỏa, vì lo nghĩ qúa độ, hoặc tình dục không ngừng khiến cho quân hỏa bốc ở trên, tướng hỏa nung ở dưới, thủy với hỏa không tương tế lẫn nhau, đó đó mà tinh dễ bài tiết. Tinh dễ bài tiết nên tạng Thận hư tổn, chân nguyên không bền, cứ vào khoảng 3 - 4 giờ sáng, khí sinh dương (thiếu dương) bắt đầu phát triển, tức thì dồn tinh tràn ra… Vì vậy, phần nhiều tiết tinh vào lúc gà gáy. Tinh đã bài tiết ra mất quá nhiều nên mới gây nên các hiện tượng như vừa nói ở trên. Tôi liền châm các huyệt Tâm du, Trung cực, Hoàn khiêu và cứu các huyệt Khí hải, Thận du, Tinh cung (Chí thất). Các huyệt tôi sử dụng ở trên, chủ yếu là bổ Thận, nhiếp tinh, ninh tâm, ích khí... Lúc đầu tưởng là cứ châm cứu một liệu trình 5 ngày rồi bảo họ kết hợp với uống thuốc, (dự trù) dùng các bài như: Kim Tỏa Cố Tinh, Kim Thủy Nhị Tiễn và Thiên Vương Bổ Tâm... Không ngờ, mới điều trị được hết 1 liệu trình, bệnh tình đã giảm được tới 60 - 70%, vì vậy không nói họ uống thuốc, mà tiếp tục châm và cứu thêm 3 liệu trình (15 ngày). Bệnh tình hoàn toàn khỏi hẳn.

Trích trong “ Tử Siêu Y Thoại" của Nguyễn Tử Siêu

Thứ Ba, 3 tháng 1, 2012

Sự đời

Cuộc đời lắm nỗi trớ trêu
Với người trung trực nhiều điều xót xa
Chính trường lắm kẻ ranh ma
Tham ô nhũng lạm, vậy mà quan cao!
Công bằng, liêm chính ở đâu
Người dân oan khuất ai nào giải cho
Kẻ kia dù có tội to
Nhờ có thế lực bao cho khỏi cần!
Đáng thương những người nông dân
Mất ruộng, cuộc sống nhọc nhằn, tối tăm
Bọn chiếm đất mất lương tâm
Chúng xây cao ốc , bán trăm tỷ đồng.
Công nhân lương thấp, nhà không,
Bữa ăn cũng tính từng đồng mới chu.
Tiền lạm phát, giá tăng vù
Dân nghèo “sốt vó” nỗi lo trăm chiều.
Của “chùa” thất thoát quá nhiều!
Nợ, lại vay nợ, bao nhiêu cũng vừa.
Đời nay vung vít vẩn vơ
Con cháu è cổ bao giờ trả xong?

Trung Ngôn
Tìm hiểu bệnh:
BỆNH TIỀN ÂM NAM GIỚI

    Theo Đông y thì hậu âm chỉ hậu môn còn tiền âm bao gồm bộ phận sinh dục ngoài và lỗ tiểu. Về nam giới thì tiền âm có ngọc hành, âm nang (cũng gọi tinh nang tức bọng đái gồm tinh hoàn, mào tinh hoàn), tuyến tiền liệt. Bệnh của tiền âm nam thường gặp có Tử Ung (Viêm mào tinh hoàn, Viêm tinh hoàn), Tử Đờm (Lao tinh hoàn, Lao mào tinh hoàn), Thủy Sán (Thủy tinh mạc), Viêm tuyến tiền liệt, U xơ tuyến tiền liệt, v.v...

Sự Quan Hệ Giữa Tiền Âm Và Kinh Lạc, Tạng Phủ
1- Quan hệ với Kinh lạc : theo đường vận hành và phân bố của các đường kinh thì tiền âm có liên quan với các kinh can và mạch Nhâm, mạch Đốc, cho nên bệnh tật ở tiền âm phần lớn có liên quan với 3 kinh mạch đó.
2. Quan hệ với tạng phủ : theo sách ‘Ngoại Khoa Chân Thuyên’ thì dương vật (ngọc hành, âm hành) thuộc Can, lỗ tiểu (mã khẩu) thuộc Tiểu trường, âm nang, (bìu dái) thuộc Can, tinh hoàn (tinh hoàn, thận tử), ống dẫn tinh và cơ quan trực thuộc Can. Tiền âm nam có chức năng tình dục và bài tiết nước tiểu, có quan hệ mật thiết với thận và bàng quang. Thận chủ thủy và tàng tinh, tinh khiếu và niệu khiếu (để phóng tinh và bài tiết nước tiểu) thuộc thận và có quan hệ với các cơ quan ở tiền âm. Nguồn gốc của tinh là ở ngũ tạng lục phủ và tàng tại thận, việc tàng tiết của tinh có quan hệ với thận và tâm. Nước tiểu được sinh ra và bài tiết là do sự hoạt động của tỳ phế thận và tam tiêu. Vì vậy bệnh của tiền âm có quan hệ với tạng phủ và kinh mạch sau : Can, Tâm, Tỳ, Thận, Phế và Tiểu trường, Bàng quang, Tam tiêu cùng 2 mạch Nhâm và mạch Đốc.

Nguyên Nhân

+ Tâm Hoả Vượng : vì tâm là cơ quan chủù tể cho nên nếu chức năng tâm rối loạn đều có thể ảnh hưởng đến tất cả ngũ tạng lục phủ, vì thế việc phóng tinh, bài tiểu cũng bị rối loạn.
Trên lâm sàng trạng thái bệnh lý thường gặp là Tâm âm hư, Tâm hỏa vượng, Nhiệt hạ chú tiểu trường gây nhiễu loạn tinh cung, làm cho huyết bị rối loạn sinh ra chứng tinh huyết, niệu huyết.
+ Can Mất Sơ Tiết : Can mạch đi qua tiền âm, can chủ cân (chủ tông cân - tức ngọc hành). Can mất chức năng sơ tiết dẫn đến kinh lạc khí huyết ứ trệ, thấp nhiệt hạ chú, thấp độc xâm nhập tiền âm đều có thể phát sinh các chứng như Tử ung, Nang ung, Thủy sán, Tinh trọc, Huyết tinh, v.v...
+ Tỳ Vận Hóa Rối Loạn : Tỳ chủ vận hóa cho nên nếu vận hóa suy giảm thì thủy thấp hạ chú hoặc tân dịch ngưng trệ thành đờm mà sinh ra chứng Tử đờm, Thủy sán, Âm cân đờm hạch... Tỳ hư trung khí hạ hãm, bàng quang không chế ước được sinh chứng tiểu nhiều lần, tiểu són. Tỳ không thống huyết sinh chứng niệu huyết, huyết tinh...
+ Phế Thất Tuyên Giáng : phế chủ khí, khí mất tuyên giáng, thủy đạo không được thông đều sinh chứng tiểu không thông lợi, tiểu ít, nếu phế khí hư, chức năng thận bàng quang suy giảm không chế ước được sinh ra tiểu són, đái dầm.
+ Thận Khí Hao Tổn : tinh hoàn thuộc thận, thận khai khiếu ở nhị âm, thận và tiền âm có liên quan mật thiết cho nên bệnh của thận trực tiếp ảnh hưởng đến tiền âm.
Thận khí suy thì chức năng sinh dục suy giảm và chuyển hóa nước trong cơ thể rối loạn mà sinh ra vô sinh nam, liệt dương hoặc rối loạn tiểu tiện.
Thận âm hư sinh hỏa vượng đốt tân dịch thành đờm gây nên chứng Tử đờm hoặc chứng Lao dương vật, hỏa nhiễu tinh cung sinh ra chứng tinh trọc, huyết tinh.
Thận dương hư thì tinh thần mệt mỏi, lưng gối lạnh, tiểu nhiều lần hoặc tiểu són, tiểu không tự chủ, liệt dương, tảo tinh, tiết tinh v.v...
+ Bàng Quang Khí Hóa Bất Lợi : theo YHCT, chức năng khí hóa của thận và bàng quang tốt thì bài tiết nước tiểu mới bình thường, nếu bàng quang khí hóa suy giảm thì sinh ra chứng tiểu nhiều lần, tiểu gắt, tiểu buốt, bàng quang mất chức năng chế ước gây nên tiểu không tự chủ, đái dầm.

Triệu Chứng
+ Tiểu Nhiều Lần : người bình thường đi tiểu mỗi ngày trung bình 4-5 lần ban ngày và 0-2 lần ban đêm. Tiểu nhiều lần hơn là trạng thái bệnh lý thường gặp trong các chứng viêm Bàng quang, viêm Niệu đạo, sỏi Tiết niệu dưới, Tiền liệt tuyến tăng sinh.
+ Tiểu Gấp : biểu hiện muốn đi tiểu là phải đi ngay không nín được, thường đi kèm với tiểu nhiều lần.
+ Tiểu Đau : cảm giác đau lúc tiểu, gặp trong các chứng viêm Niệu đạo, viêm Bàng quang, viêm Tiền liệt tuyến, sỏi Bàng quang và sỏi Niệu quản dưới.
+ Tiểu Khó : tiểu phải dùng lực, dòng nước tiểu nhỏ, nhỏ giọt hoặc đứt đoạn, gặp trong các bệnh Tiền liệt tuyến tăng sinh, Sỏi bàng quang và Sỏi niệu đạo.
+ Nước Tiểu Ứ Đọng: Nước tiểu đọng trong bàng quang mà không đi tiểu được, gặp trong các chứng viêm tiền liệt tuyến cấp, tiền liệt tuyến tăng sinh.
+ Tiểu Bất Tự Chủ : nước tiểu tự động chảy ra không cầm được. Chứng nhẹ chỉ lúc ngủ hoặc chỉ lúc bàng quang đầy nước tiểu, nặng thì nước tiểu chảy thường xuyên.
   + Huyết Niệu : có thể mắt nhìn được nước tiểu đỏ hoặc chỉ phát hiện hồng cầu dưới kính hiển vi, có 4 loại :
. Chảy máu niệu đạo không liên quan đến nước tiểu.
. Tiểu có máu lúc bắt đầu tiểu : thường do xuất huyết ở phần trước niệu đạo.
. Tiểu có máu vào phần cuối lúc tiểu : bệnh thường ở phần sau niệu đạo, rò bàng quang, tiền liệt tuyến và tinh nang.
. Toàn nước tiểu có máu : bệnh tổn thương từ cổ bàng quang trở lên.
+ Chất Xuất Tiết Niệu Đạo : là máu hoặc mủ, thường gặp trong các chứng tổn thương niệu đạo, viêm niệu đạo, viêm tiền liệt tuyến ...
+ Khối U : lúc ứ đọng nước tiểu, có khối u vùng bụng dưới. Có khối u bìu dái trong các chứng Tử đờm, Tử ung, Thủy sán.
Biện Chứng Luận Trị
Trên lâm sàng, bệnh tiền âm nam thường biểu hiện các chứng sau :
+ Thấp Nhiệt Hạ Chú : âm nang sưng nóng đỏ, đau, tinh hoàn to đau, bao tinh ứ nước, tiểu gấp, nhiều lần, nước tiểu vàng đậm, dương vật nóng đau, nước tiểu đục...
+ Khí Huyết Ứ Trệ : thường gặp ở các bệnh kéo dài mạn tính do kinh mạch không thông, tinh hoàn, mào tinh hoàn cứng đau, bụng dưới hoặc hội âm đầy tức đau, đi tiểu khó.
+ Đờm Trọc Ngưng Kết : có triệu chứng chủ yếu là hòn cục ở tinh hoàn, dương vật nổi cục (âm hành đờm hạch), mầu da không nóng, không đỏ, không đau, thuộc âm chứng. Đờm trọc có thể hóa nhiệt mà sinh chứng âm hư đờm hỏa nên da đỏ thẫm,hơi nóng và hơi đau hoặc hóa mủ vỡ.
+ Thận Âm Bất Túc : do bệnh lâu ngày tổn thương thận, hoặc phòng dục quá độ, nội thương thất tình, thận âm hao tổn. Triệu chứng lâm sàng thường có lưng gối đau mỏi, tinh thần mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt, mất ngủ, mồ hôi trộm, âm hư không chế ước được dương, hư hỏa nội động sinh ra lòng bàn chân tay nóng, nước tiểu đỏ, tiểu khó, tiểu ngắt quãng, tiểu nhỏ giọt; hỏa nhiễu tinh cung, dương vật dễ cương, di tinh nặng có thể sinh ra huyết tinh.
+ Thận Dương Hư Suy : phần lớn do cơ thể vốn hư hoặc bệnh lâu ngày gây nên hư, phòng dục quá độ làm tổn thương thận dương. Đặc điểm lâm sàng là tinh thần mệt mỏi, lưng gối nhức lạnh, liệt dương, di tinh, tiểu nhiều lần hoặc không tự chủ, tràn dịch bao tinh. Dương hư sinh ngoại hàn nên tiểu trong, chân tay lạnh, da bìu dái lạnh, mạch Trầm Trì Tế.
Trên đây là những chứng thường gặp.
Nguồn Intenet

Thứ Hai, 2 tháng 1, 2012

Đông và Tây, Hai Cách Nhìn và Nghiên Cứu về Y Học
    .......
  
      Trước khi tìm hiểu về y lý Y Học Cổ Truyền, tôi muốn đưa ra sự khác biệt giữa Đông và Tây nhìn về một bệnh khác nhau ở chỗ nào? Sở trường và sở đoản ở đâu? Và chúng ta phải dùng sự lý luận và thông minh của mình để khi nào thì dùng Đông hay Tây Y để khỏi hối hận một khi bước vào đường cùng, rồi cứ như con ngựa bị che mắt, cứ giao thân phận cho thầy thuốc, đôi khi còn phải chịu trận trong sự đau khổ với bệnh tật hay phải giã từ người thân một cách oan uổng.

Chúng ta thường nghĩ Y Khoa Đông Phương có tính cách trừu tượng, thiếu tính cách khoa học, thuần lý, không thí nghiệm được, thậm chí có người còn gán cho như là một tôn giáo, đôi khi mê tín…

Những luận chứng này chỉ có tính cách hời hợt, không có chiều sâu:

- Nếu nói Y Khoa Đông Phương là trừu tượng, thì vũ trụ này biết bao nhiêu lý thuyết trừu tượng, nhưng sẽ từ từ trở thành rõ ràng với thời gian. Thí dụ: Đức Phật có nói trong giọt nước có muôn ngàn chúng sinh, thời đó thì quả thật là trừu tượng, nhưng ngày nay đã tỏ rõ như ban ngày.

- Lý thuyết Âm Dương tuy là trừu tượng nhưng theo thời gian khoa học ngày nay đã nhìn được rõ ràng tính chất Âm Dương đó và cho nó hai ẩn số là 0 và 1. Cũng chỉ hai ẩn số này, chúng ta đã dùng nó rất nhiều trong khoa học và những thập niên gần đây đã áp dụng vào hệ thống điện toán vô cùng kỳ diệu. Như vậy, y lý Đông Y, Âm và Dương cũng không còn trừu tượng nữa và cũng không còn tính cách huyền hoặc và mê tín như một số người đã gán cho nó.

- Lý thuyết Đông Y có tính cách thuần lý cũng không sai vì lý luận của Đông Y đặt trên Âm Dương và ngũ hành. Người thầy thuốc phải nắm vững về Âm Dương và ngũ hành trong khi định bệnh và chữa bệnh. Muốn thấu hiểu được Âm Dương và ngũ hành và đem ra áp dụng ít nhất cũng phải tốn bốn năm đại học tại Mỹ (tôi đã có dịp học Y Khoa Đông Phương với những vị bác sĩ Tây Y khả kính và nổi tiếng trước kia tại VN cũng phải mất thời gian và liên tục học hỏi sau vài năm mới định được bệnh và mới chấp nhận là đúng). Học không chưa đủ, còn tùy thuộc vào sự nhận thức và bén nhạy chẩn đoán của từng thầy thuốc đúng hay sai, nhiều hay ít, do đó kết quả chữa trị lâu hay mau, nhiều hay ít là như vậy. Lý thuyết Âm Dương đã mang tính trừu tượng, phải học và tìm hiểu những tính chất trừu tượng đó cho đến khi nắm được. Bước thứ hai là đem ra áp dụng cũng cần phải thực hành và học hỏi những bậc tiền bối một thời gian, cho tới khi nào nhuần nhuyễn mới tạm gọi là thầy thuốc. Tôi muốn nói khi chúng ta ăn và nuốt thức ăn vào, chúng ta không còn nghĩ chúng ta đang ăn, đang nuốt nữa, mà ngon hay không ngon mà thôi. Thầy thuốc khi chữa bệnh cũng phải nhuần nhuyễn như vậy. Có nghĩa là cho thuốc mong bệnh nhân báo cáo hết nhiều hay ít? Tại sao như vậy, vì mỗi cơ thể và hoàn cảnh mỗi người mỗi khác và bệnh tình nặng nhẹ khác nhau.

- Thiếu tính cách khoa học: Khoa học và triết học có những quy luật chung, nhưng khi áp dụng vào từng ngành thì có những quy luật riêng. Hơn nữa, ngày nay phương pháp khoa học chuyên môn phát triển vô cùng phong phú và đã được áp dụng vào Y Khoa Đông Phương, chẳng hạn như mạch lý mà xưa kia và ngay bây giờ có nhiều người vẫn cho là mơ hồ, không thể hiểu nổi. Ngày nay, con người đã biết sử dụng những dụng cụ khoa học “oscilloscope” đưa lên màn hình những đồ biểu của mạch lý, để thầy thuốc hay bệnh nhân nhìn thấy một cách rõ ràng. Tuy nhiên, đây chỉ là những biểu thị căn bản, còn những mạch lý phức tạp vẫn cần tới thầy thuốc, có nghĩa là con người vẫn là chính để tìm hiểu và đưa ra phương thức chữa bệnh…

- Việc gán ghép Y Học Cổ Truyền có tính cách tôn giáo là hoàn toàn không đúng. Tin vào thầy thuốc chữa bệnh thì một bệnh nhân theo Đông hay Tây Y gì cũng cần phải có niềm tin vào người thầy thì bệnh tình mau lành. Đó là chuyện bình thường. Còn tôn giáo ngoài niềm tin còn có tính cách siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánh, cũng như những đạo lý, lễ nghi liên quan đến niềm tin đó. Y Khoa Đông Phương hoàn toàn không có những điều này. Còn mê tín chữa bệnh theo cúng bái, tàn nhang, nước thải là do con người tự tạo ra, và con người không còn tự chủ được mình một khi gần đất xa trời, nghe thấy ai nói là tin ngay và giao thân cho họ, là tại mình, chứ Y Khoa Đông Phương có y lý rõ ràng và những bài thuốc được phân loại theo bát cương: âm dương, biểu lý, hàn nhiệt, hư thực; mạch lý có tứ chẩn: phù, trầm, trì, sác… Như vậy đâu có thể kết luận thầy thuốc Đông Y chữa bệnh theo mê tín được.

- Y Học Cổ Truyền không thực nghiệm được: Đúng mà không đúng. Thuốc Đông Y cũng do những dược thảo, mà Tây Y lấy tinh chất làm thành và ngày nay đã dùng những dược thảo mà Đông Y đã dùng nhiều ngàn năm, tinh chế thành những loại thuốc mới và đã phân tich theo khoa học tìm được những chất bổ dưỡng, những vitamine cần thiết cho cơ thể, mà Đông Y đã dùng nhiều năm qua. Tuy nhiên khoa học cũng vẫn chưa thí nghiệm được vì Đông Y còn dựa trên khí hóa, âm dương hiện diện trong vũ trụ và ngay trong con người mà dụng cụ hay cơ sở vật chất chưa đủ để phân tích và khám phá ra được; chẳng hạn, nhân sâm đem phân tích không thấy nhiều chất bổ dưỡng, nhưng chúng ta uống thấy khỏe là như vậy. Những loại nhân sâm ở Tây Bá Lợi Á hay Hy Mã Lạp Sơn (Hymalaya) khí trời lạnh, cần phải lấy dương khí để sống là loại dược thảo bổ khí rất tốt. Khi uống chúng ta thấy ấm áp và phấn chấn cũng như khỏe khoắn hơn.

Hai Cách Suy Luận

Đông Y dùng thuật ngữ mà người phương Tây nghe chói tai như: phong, thấp, táo, nhiệt… Tuy khác biệt về ngôn ngữ nhưng chữa trị kết quả giống nhau. Thí dụ: Tây Y không nhận ra thấp, nhưng có chữa trị cái mà Đông Y gọi là thấp nhiệt. Tây Y không dùng danh từ hỏa, nhưng có thể chữa trị cái mà Đông Y gọi thân hỏa vượng, ảnh hưởng tới phế. Tây Y coi phong không phải là nguyên nhân gây ra bệnh, nhưng thực ra họ đã ngăn ngừa được gan phong đưa lên trên đầu và họ đã dập tắt được phong xâm nhập vào da. Tuy diễn tả khác nhau về ngôn ngữ nhưng chữa trị lành bệnh giống nhau. Tây Y quan tâm vào sự cô lập vi trùng hay vi khuẩn và tiêu diệt chúng. Thí dụ: Mổ trên đầu để loại bỏ một cục bướu đơn thuần. Đông Y tập trung vào hội chứng, triệu chứng rồi đưa ra phương cách chữa trị; tập trung vào nguyên nhân gây ra bệnh. Bệnh có thể ảnh hưởng nhiều phần trong cơ thể và sự liên quan này có thể định bệnh chính xác hơn và cho thuốc nhiều hay ít, dẫn vào những vùng mà tạng phủ thụ bệnh.

Đông Y tập trung vào sinh lý và tâm lý bệnh nhân, môi trường sống, công ăn việc làm, các triệu chứng. Tất cả những sự kiện này gọi là hội chứng, đem ra so sánh mà định bệnh để chữa trị, hay còn gọi là sự mất quân bình tạng phủ của từng bệnh nhân. Đông Y định bệnh không chú tâm vào bản chất của bệnh và những chi tiết gây ra, nhưng trợ giúp nhẹ nhàng làm gia tăng sức đề kháng bằng cách cho thuốc uống tổng quát, nhưng vẫn tập trung vào nơi thụ bệnh của tạng phủ.

Câu hỏi nguyên nhân và hậu quả chỉ là phụ mà câu hỏi chính là cái gì liên quan giữa x và y, chứ không phải là x sinh ra y. Đông phương chú tâm vào tổng thể hơn chi tiết, tập trung vào hội chứng và sự mất quân bình mà đưa ra phương thức chẩn trị và hồi phục lại sức khỏe.

Chúng ta có thể nhìn thấy một cách rõ ràng hơn bằng cách định bệnh và chữa trị một số bệnh nhân nhức đầu và đau bụng do loét bao tử gây ra được bệnh viện tại Trung Hoa trong lâm sàng cho biết:

Thí dụ: Một bệnh nhân nhức đầu, dĩ nhiên nhức đầu là do vùng đầu khí huyết không thông, hay bị ung bướu…

Đông Y định bệnh nhức đầu do tạng phủ nào gây ra nhức ở vùng nào trên đầu: Nhức đầu phía trước trán thường liên quan tới bao tử; nhức hai bên đầu liên quan tới gan và mật; nhức đỉnh đầu liên quan tới thận; nhức sau ót liên quan tới bàng quang. Sau khi định được tạng phủ nào gây ra nhức đầu rồi mới định nhức đầu do khí, huyết, phong, thấp, hàn hay nhiệt…

Đối với bác sĩ Tây Y, bịnh đau bao tử được chẩn đoán sau khi soi và chụp quang tuyến tìm ra bị loét bao tử. Các bác sĩ chỉ nhìn cái ngọn mà không tìm nguyên nhân nào gây ra loét bao tử và dĩ nhiên cho thuốc các bệnh nhân giống nhau. Ngược lại, các bác sĩ Đông Y định bệnh đau bao tử của các bệnh nhân này theo tuần tự như sau: Xem xét chỗ bị đau, xem sắc diện, lưỡi, xem xét các yếu tố ăn uống, ngủ nghỉ, mạch… để truy tìm nguyên nhân gây ra bệnh.

Thí dụ 1: Bệnh nhân cảm thấy đau gia tăng khi được ấn bụng, nhưng khi chườm khăn lạnh thì bệnh nhân cảm thấy dễ chịu. Bệnh nhân này cơ thể cường tráng, mặt hồng, tiếng nói sang sảng, bị táo bón và nước tiểu vàng, rêu lưỡi bệnh nhân vàng và trơn, mạch trường và huyền. Bác sĩ Đông Y dựa vào hội chứng này định bệnh: Thấp nhiệt trong tỳ.

Thí dụ 2: Bệnh nhân có thân thể gầy gò, mặt tái mét, gò má đỏ, lòng bàn tay hay chảy mồ hôi, ngủ chập chờn về đêm, hay tiểu đêm, lạnh chân, ra mồ hôi đêm, hay lo sợ và mệt mỏi nhất là về chiều, lưỡi khô và đỏ, mạch sắc và vi. Bác sĩ định bệnh là Âm suy ảnh hưởng bao tử.

Thí dụ 3: Bệnh nhân khi được nắn bóp và cứu thì cảm thấy bớt đau nhưng các biện pháp này chỉ giúp chút chút, bệnh nhân vẫn thấy khó chịu. Bệnh nhân có dấu hiệu giảm đau sau khi ăn, nhưng cũng chỉ tạm thời. Bệnh nhân sợ lạnh, mặt xanh, tự nhiên ra mồ hôi ban ngày và ngủ rất nhiều, nước tiểu trong và đi nhiều lần, hay thức dậy giữa đêm mặc dù là bàng quang không có nước tiểu, hay e lệ và sợ sệt, lưỡi ướt và hơi trắng, mạch khổng. Bác sĩ định bệnh là thoát hỏa ở trung tiêu.

Thí dụ 4: Bệnh nhân than đau quặn, di chuyển cảm thấy nặng nề, chườm nước nóng thì giảm đau, nhưng xoa bóp bụng lại thấy khó chịu, mặt trắng bệch, đi cầu phân lỏng, rêu lưỡi trắng và dày, mạch huyền và hoạt. Bác sĩ định bệnh là quá nhiều thấp làm ảnh hưởng tỳ và vị.

Thí dụ 5: Bệnh nhân đánh hơi rất nhiều và đau đầu, cơn đau như bị dao đâm, nắn bóp thấy dễ chịu, dùng nóng hay lạnh áp dụng không hiệu quả. Bệnh nhân hay lo âu, giận dữ, buồn nản và đối với bệnh nhân nữ cơn đau gia tăng vào kỳ hành kinh, lưỡi bình thường, mạch huyền. Bác sĩ định bệnh là gan khí phạm tỳ.

Thí dụ 6: Bệnh nhân đau dữ dội và cơn đau như dùi đâm vào bao tử, đôi khi lan qua đàng sau. Bệnh nhân cảm thấy đau hơn khi ăn vào và khó chịu khi ấn nhẹ vào bụng; đôi khi bị nôn mửa ra máu tươi hay đi cầu ra phân đen như bùn và tanh mùi máu. Bệnh nhân gầy gò và sắc mặt trắng bạch, lưỡi màu tím thẫm và hai cạnh đỏ, mạch sáp, được định là mất quân bình gây ra huyết ứ trong bao tử.

Đông Y nhìn hội chứng và triệu chứng trong khi Tây Y không quan tâm tới. Cho nên chỉ định có một bệnh là loét bao tử.

Sau đây mời quý vị theo dõi và suy ngẫm về sự nhận thức của bác sĩ Andrew Weil, M.D., tốt nghiệp tại đại học nổi tiếng Harvard, Boston viết và tôi phỏng dịch như sau:

”Để tôi đưa ra một thí dụ tại sao có sự khác biệt về triết lý, dẫn tới sự khác biệt về thực hành. Ở phương Tây, khoa Tây Y chú trọng chính vào sự tấn công từ bên ngoài của bệnh tật và phát triễn những phương pháp và dụng cụ chế ngự nó. Nhờ vào sự khám phá tuyệt vời của trụ sinh trong bán thế kỷ qua và với sự chiến thắng những bệnh tật do vi trùng gây ra bằng trụ sinh đã chế ngự tâm trí con người và đã thuyết phục được hầu hết mọi người rằng thuốc Tây với kỹ thuật sản xuất tối tân là hiệu quả nhất, không cần biết về tốn kém. Trong khi đó Đông Y, nhất là tại Trung Hoa, Đông dược đã có phần khác biệt về mục đích. Người Á Đông đã nghiên cứu làm sao gia tăng sức đề kháng của cơ thể, và chúng ta có thể giữ được khỏe mạnh bằng cách đề phòng bệnh tật. Trong sự học hỏi của bác sĩ Đông Y đã khám phá ra sự tự nhiên của thiên nhiên là chất bổ dưỡng cho cơ thể . Mặc dầu Tây Y đã phục vụ sức khỏe cho con người rất tốt trong nửa thề kỷ qua, nhưng nói về lâu về dài thì sự hữu hiệu không còn như mong muốn khi so sánh với Đông Y.

Cái vũ khí nguy hiểm có thể ngấm ngầm đốt cháy gây nên thương tổn đối với ai dùng nó, và nó có thể gia tăng dữ dội đối với kẻ thù. Thực sự những bệnh nhiễm trùng, các bác sĩ chuyên khoa trên thế giới ngày nay đã đôi khi phải bó tay bởi sự chống trả lại của những vi trùng. Vừa ngày hôm nay, tôi đã nhận được một bản tin nghiên cứu lâm sàng của các bác sĩ tại Đại Học Y Khoa Arizona, nơi tôi giảng dạy, đã chính thức ra thông báo về sự chống lại của vi trùng và vi khuẩn là: “Tai họa mới” như sau: Trong khi sự tiêu diệt những vi trùng và vi khuẩn được coi như ”thuốc kỳ diệu” của bán thế kỷ XX, các trung tâm nghiên cứu và chẩn trị đang nhức nhối và lo ngại về sự chống lại của những vi trùng đối với thuốc là vấn đề chính trong lâm sàng. Có nhiều giải pháp đã đưa ra. Trong kỹ nghệ thuốc Tây đang cố gắng khám phá thuốc mới, ít bị ảnh hưởng đối với sự chống lại của vi trùng. Thật là bất hạnh khi các vi trùng đã phát triển nhanh, chống lại sự đề kháng của cơ thể... ngay cả với bệnh nhân tại bệnh viện đã được áp dụng tuyệt đối những thủ tục kiểm soát nhiễm trùng. Những nhân viên làm việc trong trung tâm chăm sóc sức khỏe cần phải biết sự chống lại của các vi trùng và vi khuẩn đang gia tăng phi mã trong lâm sàng trị liệu và ảnh hưởng trực tiếp tới sự vô vọng mà bệnh nhân phải chấp nhận. Có nghĩa là bệnh nhân sẽ chết vì bị nhiễm trùng mà bác sĩ không thể chữa bằng trụ sinh được nữa. Thực sự trụ sinh đang xuống dốc thê thảm và những bác sĩ chuyên môn đang cố gắng tìm phương cách nào đó để trị liệu thay vì chúng ta không còn bao lâu để lệ thuộc vào nó.

Chúng ta có thể quay lại những phương pháp đã được dùng trong bệnh viện vào thập niên 1920 tới 1930 trước khi có trụ sinh như áp dụng cách ly tuyệt đối, hy vọng tương lai gần phải thay đổi quan niệm để phối hợp và áp dụng trở lại trong triết lý Tây Y.

Trong khi đó sự kháng cự của vi trùng đã không xảy ra đối với chất bổ dưỡng dùng trong Y Khoa Đông Phương, bởi vì Đông Y đã không dùng thuốc đánh thẳng vào vi trùng, mà là gia tăng hệ phòng thủ và ảnh hưởng tới tế bào của hệ miễn nhiễm, giúp bệnh nhân chống lại mọi sự nhiễm trùng mà không trực tiếp chống lại vi trùng. Ngoài ra trụ sinh chỉ ảnh hưởng chống lại vi trùng, không dùng cho những bệnh tật gây ra bởi vi khuẩn. Sức mạnh của Tây Y không còn khả năng để chống lại vi khuẩn thấy rõ ràng ở bệnh AIDS.

Đông dược quan niệm gia tăng sự đề kháng bằng cách phòng bệnh và cho rằng cơ thể có khả năng đề kháng tự nhiên chống lại mọi loại vi trùng bệnh tật. Nếu chúng ta áp dụng thì đã không bị khủng hoảng về săn sóc y tế như ngày nay, bởi vì phương pháp này đã biết lợi dụng khả năng tự nhiên lành bệnh, đỡ tốn kén rất nhiều so với Tây Y ngày nay và cũng an toàn, hiệu quả hơn đối với thời gian.

Tây Y chú tâm vào dập tắt bệnh tật, trong khi Đông Y chú trọng vào tự nhiên khỏi bệnh của cơ thể mà trời ban cho. Nguồn gốc bệnh là ngoại cảnh, còn lành bệnh là tự nhiên. Danh từ lành bệnh có nghĩa là tổng thể (making whole) có nghĩa là lấy lại sức lực và quân bình lại Âm Dương. Tôi rất thích thú theo dõi những chuyện bệnh nhân tự nhiên hết bệnh và tôi nghĩ quý vị cũng vậy. Có thề trong cuộc đời quý vị cũng đã có gặp trường hợp tự nhiên hết bệnh là thường, ngay cả ung thư cũng thế. Đối với trường hợp này các bác sĩ Tây Y tại các trung tâm trưởng cũng chỉ cười xoà và cho là kỳ diệu, và nghĩ có thể chỉ là tạm thời thay vì vĩnh viễn. Điều gì đã xảy ra khi một số người lành bệnh do cầu nguyện, phải chăng là cơ thể tự điều chỉnh?

Bác sĩ Andrew Weil, M.D. muốn kêu gọi sự lưu tâm chung về bản chất tự nhiên từ bên trong làm khỏi bệnh, mặc dầu khi chúng ta chữa trị, chúng ta phải áp dụng các phương pháp mang tới kết quả tốt hơn. Những kết quà này được thể hiện chẳng qua do sự kích động tự nhiên mà lành bệnh dù dưới bất cứ tình huống nào, cơ thể có thể tự điều động, không cần bất cứ sự kích thích nào từ bên ngoài. Nếu chúng ta có sức khoẻ tốt, chúng ta nên tìm hiểu về hệ thống tự chữa trị của thân thể nhằm tăng cường những điều kiện tốt này. Khi chúng ta bệnh hay người thân của chúng ta bị bệnh, chúng ta cần bìết về hệ thống này vì nó là tốt nhất để phục hồi sức khỏe.

Bác sĩ đã đưa ra những trường hợp tự nhiên lành bệnh mà những chứng cớ vẫn còn trong hồ sơ bao gồm cả những sự bất đồng ý kiến mà bạn có thể tìm thấy tại bất cứ tổ chức nào của khoa sinh vật học. Những phương pháp tự định bệnh, tự lành bệnh vẫn hiện hữu trong con người. Các loại thuốc biết lợi dụng tính tự nhiên lành bệnh thì kết quả gia tăng hơn là dùng thuốc để dập tắt. Trong bài này có nhiều câu chuyện về người bệnh đã lành bệnh tự nhiên mà tôi đã chứng kiến; những người bệnh đã được các bác sĩ tiên liệu là không còn phuơng cứu chữa và chỉ còn sống từng giờ, từng ngày lại có thể biến chuyển khả quan với phương pháp chữa trị cổ xưa. Và tôi đang thực hiện những điều đó. Tôi rất thích thú với những trường hợp đặc biệt này và tôi càng ngày càng có nhiều trường hợp và tôi tin tưởng bất cứ ngưòi nào hướng tới sẽ tìm được những phương pháp chữa trị khác nhau. Tự hết bệnh thường xảy ra, không phải họa hoằn. Chúng ta có thể vô cùng ngạc nhiên về những tường hợp người bị ung thư tự nhiên hết bệnh, nhưng chúng ta phải chú tâm vào những hoạt động bình thường, hệ thống điều chỉnh tự nhiên của con người, như chữa trị những thương tích. Thực sự điều này là bình thường, ngày qua ngày làm việc của hệ thống tự điều chỉnh đề lành bệnh, vô cùng bình thưòng.

Chúng ta sẽ tìm thấy ở đây những sự kiện đã được sửa đổi trong cách sống để gia tăng sự tự lành bệnh của con người tới mức tối đa bao gồm: thức ăn, môi trường ô nhiễm, thể dục, giảm căng thẳng, vitamins, dược thảo phụ và những dược thảo bổ dưỡng. Tất cả những điều này sẽ giúp bạn giữ cho sức khoẻ tốt. Và ông cũng đề nghị một chương trình tám tuần cho thay đổi cách sống và thói quen, những điều này sẽ giúp gia tăng sức mạnh của hệ thống tự điều chỉnh cho cơ thể lành bệnh.

Sau khi phân tích sự mạnh yếu của Tây và Đông Y và xác định những trường hợp khả tín đã dùng thành công cho bệnh nhân, bác sĩ đưa ra những đề nghị dùng phương pháp tự nhiên để giảm thiểu những loại bệnh thông thường, kể cả ung thư là loại bệnh đặc biệt, bởi đây là loại bệnh có nhiều hy vọng đối với tự điều chỉnh hết bệnh của cơ thể, nhưng chọn lựa cách chữa trị đòi hỏi phải phân tích cẩn thận về điều kiện của mỗi bệnh nhân. Những sự nghiên cứu về các toa thuốc thường dùng phải uyển chuyển cân nhắc sao cho các trường đại học y khoa hiện tại đồng ý thay đổi để thích hợp với phương pháp trị liệu, làm gia tăng sức khỏe và phòng bệnh hơn chữa bệnh. Cho tới ngày nay, một số các bác sĩ và các nhà khoa học đã lưu tâm tới những trường hợp tự nhiên hết bệnh. Khái niệm bên trong tự diều chỉnh hết bệnh không còn mơ hồ và xa lạ đối với họ nữa. Ông khẳng định rằng: “Chúng ta càng nắm vững những khái niệm; chúng ta càng có nhiều kinh nghiệm về tự nhiên hết bệnh trong cuộc sống thì chúng ta càng ít phải dùng tới thuốc, vì nó không cần thiết và đôi khi có phản ứng không lường và tiêu phí nhiều tiền bạc. Y Khoa Đông Phương đã phục vụ chúng ta tốt hơn nền Y Khoa hiện đại vì nó an toàn, bảo đảm, và rẻ hơn. Tôi nói ra điều này trong sự cố gằng để giúp mang nó vào Y Khoa hiện tại”.

Bác Sĩ Đặng Trần Hào

Chủ Nhật, 1 tháng 1, 2012

Sự chữa bệnh liên quan đến ý nguyện
của linh hồn người bệnh

                          Đỗ Đức Ngọc                                                               

Sau khi một vị giáo sư cựu khoa trưởng một phân khoa ở Đại Học UQAM, Gia Nã Đại được chữa khỏi bệnh, do té ngã xuất huyết não, hôn mê sâu, bằng phương pháp Khí Công Y Đạo, đã đi đứng ăn nói được bình thường trước sự chứng kiến của các bác sĩ mà trước đây họ đã quyết định đóng hồ sơ, không thể cứu sống được vì đã kiểm tra não và kết luận não chết do chấn thương sọ não. Từ đó, có nhiều bệnh nhân bị tai biến mach máu não biết đến phương pháp chữa bệnh của môn Khí Công Y Đạo.

Một hôm tôi đang giảng dạy môn Khí Công Y Đạo ở chùa Quan Âm, Montreal, có một gia đình người
 

Quebecois vào lớp xin gặp và nhờ tôi đến bệnh viện cứu sống vợ ông đang hôn mê do chấn thương sọ não.

Tôi giải thích cho ông hiểu là tôi muốn cứu người lắm nhưng không được phép của Tây Y, sẽ đụng chạm đến các bác sĩ, tôi chỉ có thể dạy cho ông phương pháp chữa để tự ông cừu lấy vợ ông. Sau đó ông trở về bệnh viện.

Tuần sau ông lại đến lớp gặp tôi, vì mỗi tuần tôi chỉ dạy 1 ngày cuối tuần, tôi hỏi ông đã chữa cho vợ ông chưa. Ông trả lời, tôi không dám chữa, ông năn nỉ tôi đến BV. Tôi trả lời, tôi muốn cứu người lắm, nhưng luật pháp không cho phép, ông có thể tìm một người bạn VN nào đến đây, tôi dạy cho cách chữa, rồi người ấy sẽ giúp ông. Ông trở về tìm một người bạn VN dẫn đến, tôi dạy cho cách châm, bấm, vuốt những huyệt cấp cứu, rồi cả hai đi đến bệnh viện.

Tuần sau cả hai người lại đến lớp gặp tôi, tôi hỏi ông đã chữa cho bà chưa. Ông trả lời "Chưa", người bạn tôi cũng không dám chữa, nhưng các bác sĩ đã cho biết trường hợp này Tây Y bó tay, người nhà muốn nhờ ai chữa cách nào cũng được, vì hội đồng Y Khoa quyết định 2 ngày sau sẽ rút tất cả các ống dẫn thuốc, thức ăn và máy trợ thở oxy… để cho bà ấy ra đi. Ông năn nỉ tôi đến ngay bệnh viện cứu bà ấy gấp, không thì không kịp.

Tôi trả lời rằng, đối với người Tây phương theo phương pháp chữa của Tây Y quen rồi, còn phương pháp của Đông Y day bấm huyệt thì đối với những người tây phương thấy lạ, Tây Y không chấp nhận. Nên đối với gia đình của ông, chỉ có một mình ông biết phương pháp của tôi và tin ở tôi, còn những thành viên khác trong gia đình không biết đến phương pháp này, họ xem như một cách chữa phản khoa học, họ sẽ thưa kiện tôi lôi thôi lắm.

Ông cho biết là tôi đừng lo, ông kể, gia đình ông chia 2 phe, phe gia đình bên vợ đồng ý rút ống cho vợ tôi chết, còn tôi là chồng, không đồng ý rút ống nếu Master Do (Thầy Đỗ) chữa được, tại sao mìmh không thử. Hai phe tranh cãi, cuối cùng nhờ một bà phù thủy tây phương xem bói bằng qủa cầu thủy tinh, tìm xem ý muốn của linh hồn bệnh nhân muốn gì…

Ông kể tiếp, chúng tôi không nói tin tức gì về vợ tôi cả, nhưng bà phù thủy đã phán 3 điều, trong đó hai điều đã đúng:

Bà phù thủy xem qua qủa cầu thủy tinh, bà nói:

Điều thứ nhất: Tôi nghe có âm thanh gọi tên bà bệnh nhân này là Odette. Quả thật, đúng là tên bệnh nhân.

Điều thứ hai, tôi nhìn thấy bệnh nhân ngồi hàng ghế trước ở chiếc xe, cạnh người lái, khi đang quẹo ở một góc đường lúc 8 giờ sáng thì bị đụng xe, bà bị đập vỡ đầu. Cũng đúng với sự thật.

Điều thứ ba: Linh hồn bà này đang đứng cạnh giường, bà nghe các bác sĩ nòi không chữa được, nhưng bệnh nhân chưa muốn chết. Ý của bệnh nhân muốn, nếu có ai chữa được mà khi tỉnh dậy, bà có thể đi đứng, ăn nói như người bình thường thì linh hồn của bà mới nhập vào xác, còn nếu bà biết được người chữa cho sống nhưng bị tàn tật, thì bà sẽ không nhập vào xác, bà sẽ bỏ xác ra đi…

Vì câu nói này của bà phù thủy mà hai phe trong gia đình chúng tôi quyết định mời ông.

Khi chúng tôi đến bệnh viện đã có hai bác sĩ ở đó, người chồng giới thiệu tôi với bác sĩ, và tôi cũng xin phép bác sĩ cho tôi được phép chữa, họ đồng ý và ra khỏi phòng, chiếc màn che phòng được kéo kín lại.

Tôi nhìn thần sắc, mặt bà đỏ gay, tiếng ngáy to, thân bất động, đầu đã mổ sọ lấy mất nửa nắp sọ, khâu kẹp da đầu bằng những miếng móc kim loại tạm thời.

Gia đình bà này không có con, giầu có và nhân hậu, đã nhận nuôi một bé gái Việt Nam quê ở Móng Cái lúc 3 tuổi sang Gia Nã Đại, bây giờ là 20 tuổi, bà còn xin một bé gái người Ấn Đô vừa mới sinh trong bệnh viện ở Gia Nã Đại, nay cũng đã 19 tuổi, cháu này có học thiền yoga Ấn Độ. Khi tôi vừa tới, cháu Ấn Độ nói nhỏ với bố nuôi câu gì đó, ông tươi tĩnh hẳn và nói với tôi là con ông nói rằng: Con thấy hào quang ông này là người làm cho má sống lại được.

Tôi đứng phía đầu giường, dùng một ngón tay trỏ bấm vào huyệt Nhân Trung để tăng cường oxy cho não hoạt động, rồi tôi gọi tên bà: Odette! Réveillez! (Odette! Tỉnh dậy.!) thế là bà mở mắt ra như người mới vừa ngủ dây, nhưng chưa tỉnh táo hẳn và chưa biết việc gì đã xảy ra vói mình.

Tôi đứng cuối giường, dùng hai ngón tay, cùng lúc vê hai ngón chân út của bà và nhắc lại câu Odette, Tỉnh dậy.

Bà la lên Oh, No! Oh, No! thế là tay chân bà cử động vung tay lên quơ qua quơ lại lắc lắc ra dấu và chân đạp như xe đạp, có ý nói thôi đau không làm nữa. Từ lúc đó, dây thần kinh trên đầu của bà giống như bị chạm mát dây, luôn miệng nói Oh, No. Ai hỏi gì cũng Oh, No. Đúng sai gì cũng Oh, No.

Tôi cho ông biết, bộ não bà bây giờ như một tờ giấy trắng chưa có chữ nào, những dữ kiện (data) cũ còn cất trong não, nhưng bà chưa có thể mở đuợc, bây giờ ông phải lấy một cuốn sổ, dạy bà học nói lại từ đầu những từ cần thiết thông dụng hằng ngày cho bà lập đi lập lại như: Đây là ai, là Jean, là em gái, là anh, là chồng, là con, là bạn, là mẹ, là dì… muốn ăn, muốn đi tiểu, uống nước, muốn ngồi, muốn nằm… cho bà nghe băng nhạc, nghe những tiếng nói của người thân và bạn bè hỏi thăm để thu vào băng cho bà nghe, cho nghe radio thời sự, tin tức mỗi ngày… để kích thích tế bào não tăng tần số sóng não lên đến tần số hoạt động tỉnh táo khoảng trên 11 Hertz, thay vì là tần số sóng não trong tình trạng ngủ hôn mê 1-2 Hertz.

Tôi bảo ông cho người đi mua 1 găng đánh box đeo vào tay cho bà, và một nón bảo hiểm đội lên đầu che bộ não cho bà, nếu không, bà quơ tay cử động đụng vào đầu vỡ dập não sẽ chết

Ngày hôm sau thứ hai, tôi đến, ông cho biết buổi chữa của tôi hôm nay, có một bác sĩ, người đã mổ sọ não cho vợ ông, muốn được xem cách chữa của tôi để ông sẽ quyết định có thể gắn trả lại hộp sọ cho bà hay không. Khi tôi chữa cho chân tay bà cử động, dạy cho bà dùng hai bàn tay kéo gối lên và yêu cầu y tá cho bà ngồi trên xe lăn đẩy bà ra hành lang đi chơi dạo mát, tôi bảo ông đưa những bức hình kỷ niệm đáng nhớ giữa hai ông bà, đặt câu hỏi cho bà trả lời, mục đích cho bà gợi nhớ ký ức, nhưng chưa được phép nói cho bà biết về tai nạn của bà, ông khoe rằng bà đã nói được nhiều, nhớ được mọi kỷ niệm, tôi bảo trước kia ông bà hay hát chung với nhau bài gì mà bà thích nhất, ông hát cho bà hát theo đi… cứ tập luyện theo thời gian, bà nhớ được gần hết, và bà tập đi…

Bác sĩ mổ sọ não chúc mừng ông bà, và hứa ngày thứ Năm này, ông ấy sẽ gắn lại cho bà hộp sọ. Một tuần sau bà xuất viện được chuyển sang nhà điều dưỡng phục hồi.

Thấm thoắt đã hơn 8 năm, ngày hôm qua, bỗng nhiên ông bà đến phòng mạch thăm tôi, ông cho biết ông bà đã dọn nhà cách xa Montreal 200km, nay có dịp lên Montreal để thăm lại Master Do. và dẫn đến cho tôi một bệnh nhân mới. Bà hiện nay đã phục hồi đi đứng nói năng bình thường như mọi người khác.

Tổng số lượt xem trang